Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ 2020-2025
Tư liệu

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ 2020-2025

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-2.png

Đảng bộ tỉnh Long An và Đảng bộ tỉnh Tây Ninh triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025 trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, song cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức; đặc biệt là tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 đến mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội, làm suy giảm đáng kể nguồn lực phát triển của hai tỉnh trong cả nhiệm kỳ. Tuy nhiên, với tinh thần “Đoàn kết-Dân chủ-Kỷ cương-Năng động-Đổi mới-Phát triển” của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai địa phương, tỉnh Long An và tỉnh Tây Ninh đã nỗ lực vượt qua khó khăn, khơi dậy và huy động mọi nguồn lực, triển khai hiệu quả các quyết sách quan trọng của Trung ương, quyết tâm tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần XI và đã đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực, tạo nền tảng vững chắc để tỉnh Tây Ninh sau hợp nhất tiếp tục phát triển nhanh và bền vững.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri.png

A. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG NHIỆM KỲ 2020-2025

1. Xây dựng Đảng và hệ thống Chính trị

Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ được xác định là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức Đảng, luôn được quan tâm lãnh đạo thực hiện đồng bộ, toàn diện.

Công tác xây dựng Đảng về chính trị: Đảng bộ tỉnh luôn kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững bản chất giai cấp công nhân gắn với truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng của dân tộc, của quê hương cùng được phong tặng danh hiệu “Trung dũng, kiên cường”. Các cấp ủy đảng kịp thời cụ thể hóa và triển khai đúng đắn, hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đảm bảo vai trò tiên phong và gương mẫu của Đảng trong việc lãnh đạo Nhà nước và xã hội; thực hành dân chủ trong Ðảng, phát huy quyền làm chủ thật sự của Nhân dân gắn liền với kỷ luật, kỷ cương của Ðảng, xây dựng văn hóa trong Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 51-NQ/TU của Tỉnh ủy (1).

image-1.jpg
Khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 với chủ đề: “Đoàn kết-Dân chủ-Kỷ cương-Đột phá-Phát triển”.

Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng: Công tác giáo dục chính trị tư tưởng luôn được các cấp ủy quan tâm, đặt lên hàng đầu; công tác đấu tranh, phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được tăng cường và đạt kết quả tích cực, góp phần ổn định tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự thống nhất nội bộ và đồng thuận xã hội. Hằng năm, các cấp ủy luôn có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên; công tác giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được quan tâm; phương thức học tập nghị quyết được đổi mới, tăng cường ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và các nền tảng mạng xã hội trong triển khai học tập, quán triệt nghị quyết; chú trọng nâng cao chất lượng việc sơ, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Công tác tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch được thực hiện kịp thời, hiệu quả, có sự đổi mới về nội dung và hình thức; ứng dụng công nghệ số, xây dựng nền tảng tuyên truyền trực tuyến, tuyên truyền song ngữ; phát huy vai trò của mạng xã hội trong việc lan tỏa thông tin, định hướng dư luận, hình thành vùng xanh thông tin, tạo hiệu ứng tích cực trên không gian mạng. Chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền miệng trong tình hình mới. Công tác quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa-văn nghệ ngày càng được nâng cao về chất lượng. Công tác khoa giáo, nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng và giáo dục, phát huy truyền thống cách mạng được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả.

Công tác xây dựng Đảng về đạo đức: Lãnh đạo, thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Kết luận số 21-KL/TW (khóa XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Đảng bộ tỉnh chủ động xây dựng và triển khai các chuyên đề hằng năm, quan tâm phát hiện, biểu dương, lan tỏa các mô hình, điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân (2). Đa số cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, nêu gương, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, đổi mới tác phong, lề lối làm việc và thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Công tác xây dựng Đảng về tổ chức: Việc củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên được quan tâm lãnh đạo và có chuyển biến tích cực. Các tổ chức đảng được kiện toàn, sắp xếp đồng bộ với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị. Sinh hoạt chi bộ được đổi mới về nội dung, hình thức, chú trọng sinh hoạt chuyên đề. Tỷ lệ tổ chức đảng, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm đạt trên 97% so với chỉ tiêu 90%. Công tác kết nạp đảng viên mới đạt và vượt chỉ tiêu, chất lượng được nâng lên (3).

Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và đạt kết quả quan trọng. Đặc biệt, từ tháng 10/2024 đến nay, hệ thống tổ chức và các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội từ tỉnh đến cơ sở được sắp xếp đồng bộ, tinh gọn, đúng theo các kết luận, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính 2 cấp. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp, đúng quy định. Hoạt động của hệ thống chính quyền 2 cấp từng bước đi vào hoạt động ổn định, khắc phục khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện.

Công tác xây dựng Đảng về cán bộ: Được các cấp ủy, tổ chức đảng coi trọng, có nhiều đổi mới; các khâu trong công tác cán bộ được cụ thể hóa thành quy định, hướng dẫn, tổ chức thực hiện đồng bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, chặt chẽ. Chất lượng đội ngũ cán bộ được nâng lên cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, uy tín, bảo đảm tiêu chuẩn chức danh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được tăng cường, thực hiện nghiêm túc, đúng quy định; chính sách cán bộ được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định.

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng: Được tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và có nhiều chuyển biến tích cực; cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của Đảng, sát với tình hình, nhiệm vụ của địa phương, cơ sở theo phương châm “kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, giám sát mở rộng”. Nhận thức của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng có sự chuyển biến rõ nét; các cấp ủy đã có sự đổi mới về phương thức lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác kiểm tra, giám sát. Nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm được tập trung kiểm tra, kết luận làm rõ, xử lý nghiêm các vi phạm góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực, tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao uy tín của Đảng bộ và hệ thống chính trị trước nhân dân.

image-3.jpg
Đoàn quân dân chính Đảng chúc mừng Đại hội.

Công tác dân vận của hệ thống chính trị được chú trọng, đổi mới: Góp phần tăng cường mối quan hệ giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân (4). Công tác dân vận chính quyền được phát huy, quan tâm chăm lo đời sống, lắng nghe và giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; cán bộ, công chức nâng cao đạo đức công vụ, kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm, qua đó củng cố niềm tin của dân đối với Đảng, Nhà nước. Dân chủ ở cơ sở được phát huy, công tác tiếp dân, đối thoại với dân thực hiện nề nếp, gần dân, hiểu dân (5). Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội có sự đổi mới nội dung, đa dạng phương thức hoạt động (6); thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào “Dân vận khéo”, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; công tác vận động, phát huy các nguồn lực trong Nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện các chính sách an sinh xã hội được triển khai hiệu quả; công tác dân tộc, tôn giáo được cấp ủy, chính quyền quan tâm lãnh đạo, đồng bào dân tộc, tôn giáo chấp hành pháp luật, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước (7).

Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ, gắn với thực hiện nghiêm các chủ trương của Trung ương về kiểm soát quyền lực. Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí cấp tỉnh được thành lập sớm và hoạt động hiệu quả; nhiều vụ án, vụ việc phức tạp, kéo dài được giải quyết dứt điểm; tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng đạt mức cao. Công tác điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm nghiêm minh, đúng pháp luật; kiên quyết xử lý cán bộ vi phạm, kể cả người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, tiêu cực. Công tác thông tin, tuyên truyền được tăng cường, đổi mới; phát huy vai trò của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân trong giám sát, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; khắc phục kịp thời các tồn tại, hạn chế theo kiến nghị của cơ quan thanh tra, kiểm tra, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền.

Các cấp ủy tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền theo Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương, bảo đảm cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng bộ. Chú trọng đổi mới tư duy, xác định rõ các đột phá chiến lược; kiên quyết, kiên trì xử lý những vấn đề khó, phức tạp, tồn đọng; gắn lãnh đạo, chỉ đạo với tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết của Đảng. Tăng cường tiếp xúc, đối thoại của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân; phát huy dân chủ, vai trò giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Hoạt động của bộ máy Nhà nước có nhiều đổi mới, đảm bảo kỷ luật, kỷ cương, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả hơn. Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; chủ động tham gia xây dựng pháp luật với nhiều ý kiến phản biện, góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng các quyết sách; công tác giám sát, khảo sát được triển khai trọng tâm, sát thực tiễn; việc tiếp xúc cử tri, tiếp nhận và xử lý kiến nghị, khiếu nại, tố cáo được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, mang lại hiệu quả thiết thực; đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội cả nước và địa phương.

Hội đồng nhân dân tỉnh luôn thể hiện tinh thần đổi mới, đồng hành, trách nhiệm, hiệu quả; ban hành các nghị quyết kịp thời cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, Tỉnh ủy và chính sách đặc thù, đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội địa phương; tổ chức nhiều hoạt động giám sát, chất vấn, giải trình, đối thoại trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả; tăng cường mở rộng dân chủ, tương tác, lắng nghe, tác động giải quyết kịp thời, thỏa đáng nhiều vấn đề cử tri kiến nghị, bức xúc qua hoạt động tiếp công dân, tiếp xúc cử tri, tham vấn, “Cuộc vận động cử tri hiến kế xây dựng quê hương”, Chương trình “Tiếng nói cử tri”, “Bàn tròn chính sách”.

image-2.jpg
Lực lượng thanh niên Tây Ninh chúc mừng Đại hội.

Tổ chức bộ máy chính quyền các cấp được sắp xếp tinh gọn, giảm đầu mối, giảm số lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Các mục tiêu theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đều đạt và vượt. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát quyền lực. Công tác cải cách hành chính tiếp tục được tập trung triển khai quyết liệt; xây dựng chính quyền điện tử có sự chuyển biến tích cực góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã được thực hiện phù hợp với các yếu tố đặc thù của địa phương. Thường xuyên quán triệt tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật hành chính và văn hóa công vụ.

Toàn tỉnh đã tiến hành vận hành chính quyền địa phương 2 cấp bảo đảm hoạt động thông suốt, không gián đoạn, không để khoảng trống pháp lý. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được sắp xếp tinh gọn, hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian , bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Chủ động bảo đảm cơ sở vật chất và nhân lực sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức, viên chức theo quy định; phân bổ ngân sách đầu tư cải tạo trụ sở cấp tỉnh, cấp xã, thiết lập và vận hành ổn định Trung tâm phục vụ hành chính công, kịp thời giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp. Hạ tầng công nghệ thông tin cơ bản đồng bộ, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính kết nối liên thông với Cổng Dịch vụ công quốc gia phục vụ người dân, doanh nghiệp. Thực hiện đầy đủ kịp thời các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, người hoạt động không chuyên trách cấp xã.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội tỉnh đã có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Công tác giám sát, phản biện xã hội được triển khai thực hiện đạt kết quả tích cực (8). Nhiều mô hình sáng tạo, thiết thực được Trung ương và tỉnh khen thưởng, biểu dương (9), góp phần lan tỏa tinh thần đại đoàn kết và chăm lo tốt đời sống nhân dân. Chủ động phối hợp, kịp thời tham mưu thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo; phát huy vai trò lực lượng cốt cán, tín đồ tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết. Các hội quần chúng được củng cố, đổi mới hoạt động, tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, hỗ trợ người dân vượt khó, vươn lên thoát nghèo.

2. Về phát triển kinh tế-xã hội

c chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2020-2025 được Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh nỗ lực, quyết tâm thực hiện, đạt nhiều kết quả tích cực trong điều kiện có nhiều khó khăn, thách thức. Đối với tỉnh Long An, ước đến cuối nhiệm kỳ có 15/17 chỉ tiêu đạt và vượt Nghị quyết; còn 02 chỉ tiêu chưa đạt là tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) và cơ cấu kinh tế (đính kèm Phụ lục I.A). Đối với tỉnh Tây Ninh, có 18/23 chỉ tiêu đạt và vượt Nghị quyết; có 5 chỉ tiêu chưa đạt là: tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế, thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tăng bình quân hàng năm, các chỉ về nông thôn mới và chỉ số sản xuất công nghiệp tăng bình quân (đính kèm Phụ lục I.B).

Công tác chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế luôn bám sát nghị quyết, quy hoạch, kế hoạch và linh động theo yêu cầu thực tiễn phát triển của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) giai đoạn 2021-2025 hai địa phương ước đạt 6,73%/năm (Long An tăng 6,55%, Tây Ninh tăng 7,01%) (10). Quy mô kinh tế đến năm 2025 ước đạt gần 350 nghìn tỷ đồng, tăng 61,6% so với năm 2020, dự kiến đứng thứ 10 cả nước (11). Đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên; GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 118,3 triệu đồng, tăng hơn 56,8% so với năm 2020 (12).

Nông nghiệp hai tỉnh ngày càng hiệu quả, nông thôn ngày càng đổi mới, nông dân ngày càng chuyên nghiệp. Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế tỉnh, tốc độ tăng trưởng khá cao, đạt bình quân 3,64%/ năm (Long An tăng 3,7%/năm; Tây Ninh tăng 3,58%) (13). Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng hiệu quả và giá trị kinh tế cao (14); năng suất, chất lượng lúa ngày càng nâng lên (15); nhiều vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh (16) và sản xuất theo tiêu chuẩn GAP được hình thành. Chương trình đột phá phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025 được tập trung thực hiện và mang lại nhiều kết quả tích cực (17) (đính kèm Phụ lục II.A; II.B). Chăn nuôi chuyển dịch mạnh sang mô hình trang trại, gia trại tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, đảm bảo an toàn sinh học và hạn chế ô nhiễm môi trường (18). Công tác quản lý, phát triển rừng bền vững được thực hiện chặt chẽ, tỷ lệ che phủ của rừng đạt 9,75% (19). Kết cấu hạ tầng sản xuất nông nghiệp được quan tâm đầu tư, nâng cấp (20). Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của hai địa phương ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất (21); Chương trình mục tiêu nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đạt nhiều kết quả (22), góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe nhân dân.

Công nghiệp tiếp tục phát triển bền vững, thu hút nhiều nhà đầu tư có năng lực và là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của hai địa phương; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,28%/năm. Chỉ số sản xuất công nghiệp phục hồi và phát triển qua từng năm (23). Quy mô ngành công nghiệp của hai tỉnh không ngừng tăng lên, năm 2025 ước đạt 161,8 nghìn tỷ đồng (24), tăng 73,2% so với năm 2020; tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 42,5% trong GRDP, khẳng định vai trò chủ lực trong cơ cấu kinh tế. Hạ tầng khu, cụm công nghiệp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ lấp đầy đạt mức khá cao (25). Chất lượng môi trường đầu tư ngày càng cải thiện; chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, củng cố niềm tin của nhà đầu tư; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) duy trì nhóm dẫn đầu cả nước, trong đó, Long An đứng thứ 2 toàn quốc năm 2023 (26). Thu hút đầu tư trong và ngoài nước đạt kết quả rất tích cực (27); nhiều nhà đầu tư chiến lược, các dự án có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có giá trị gia tăng cao triển khai đầu tư tại tỉnh, từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển kinh tế (28). Hai địa phương chú trọng phát triển năng lượng tái tạo; các dự án điện mặt trời có sự đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

image-6.jpg
Tây Ninh được vinh danh là một trong 10 địa phương hấp dẫn doanh nghiệp lớn đến đầu tư phát triển năm 2025.

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội của hai địa phương được tập trung đầu tư, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 8,95%/năm (29); đầu tư công được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, thực hiện chặt chẽ, có trọng tâm, trọng điểm; tỷ lệ giải ngân hàng năm duy trì ở nhóm cao so với cả nước, góp phần quan trọng vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế (30). Tỉnh Long An tập trung thực hiện Chương trình huy động mọi nguồn lực xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ phục vụ phát triển công nghiệp và đô thị vùng kinh tế trọng điểm và 3 công trình trọng điểm theo Nghị quyết Đại hội XI, đạt kết quả tích cực, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội (31). Tỉnh Tây Ninh quyết liệt triển khai các chương trình đột phá theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, đặt trọng tâm hoàn thiện thể chế và phát triển nguồn nhân lực, phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, du lịch, nông nghiệp đạt nhiều kết quả tích cực. Hạ tầng giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao có nhiều cải thiện (32). Hạ tầng đô thị tiếp tục được chỉnh trang đồng bộ, văn minh, hiện đại, hướng đến mô hình đô thị thông minh (33); đa dạng hóa các loại hình nhà ở, khuyến khích phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và phát triển bền vững (34).

Thương mại-dịch vụ từng bước phục hồi và phát triển sau dịch bệnh Covid-19 (35); hoạt động thương mại phát triển sôi nổi, góp phần thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng của nhân dân (36). Mạng lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích ngày càng mở rộng (37), hình thành dịch vụ thương mại hiện đại. Hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp được chú trọng, nhất là kết nối tiêu thụ với các tỉnh, thành phố lớn (38). Du lịch phát triển nhanh, tạo bước đột phá mới, tăng trưởng mạnh cả về doanh thu và lượng khách (39). Trong đó, Khu du lịch quốc gia núi Bà Đen được đầu tư hiện đại, đẳng cấp mang tầm quốc gia và quốc tế, tạo động lực thúc đẩy hệ sinh thái dịch vụ du lịch phát triển văn minh, lịch sự, chuyên nghiệp, góp phần quảng bá hình ảnh, vùng đất, văn hóa, con người Tây Ninh; tổ chức thành công nhiều hoạt động quảng bá văn hóa, truyền thống địa phương, để lại những ấn tượng sâu đậm, thu hút đông đảo du khách, từng bước khẳng định vị trí trên bản đồ du lịch cả nước. Hoạt động xuất nhập khẩu chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề nhưng đã phục hồi mạnh mẽ ngay sau đại dịch Covid-19 (40); tăng trưởng xuất khẩu duy trì ở mức khá (Long An tăng bình quân 7,28%/năm; Tây Ninh: 10,6%/năm); mở rộng thị trường, thâm nhập sâu vào các thị trường mới, khó tính, có yêu cầu cao như EU, Mỹ, Halal… khẳng định năng lực hội nhập và sức cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp địa phương.

Quy mô thu ngân sách Nhà nước của hai địa phương không ngừng tăng lên; tốc độ tăng thu hàng năm của Tây Ninh, Long An đạt mức khá, trong đó: Long An tăng khoảng 12%/năm; Tây Ninh tăng 7%. Đặc biệt, tỉnh Long An tiếp tục là địa phương dẫn đầu vùng đồng bằng sông Cửu Long; từ năm 2023 đã tự cân đối ngân sách và là tỉnh duy nhất trong vùng có điều tiết về ngân sách Trung ương. Công tác quản lý điều hành thu-chi ngân sách Nhà nước được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả, hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch. Cơ cấu thu ngân sách từng bước bền vững (41); tỷ trọng chi đầu tư phát triển trên tổng chi cân đối hàng năm của hai địa phương ở mức cao so với mặt bằng chung cả nước (42); các nhiệm vụ chi ngân sách cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của hai tỉnh. Hoạt động của các tổ chức tín dụng ổn định, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.

Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được tập trung thực hiện quyết liệt, mang lại kết quả tích cực. Hai địa phương tập trung hoàn thành Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 với tư duy đột phá, trên cơ sở phát huy tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của từng tỉnh (43); đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện, tháo gỡ, khắc phục các “điểm nghẽn” về quy hoạch, đất đai, đầu tư, khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện môi trường đầu tư thông thoáng, công bằng, minh bạch. Các loại hình quy hoạch được tập trung triển khai đồng bộ, đảm bảo tiến độ và tính thống nhất đồng bộ, góp phần định hướng phát triển kinh tế-xã hội, không gian đô thị, nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững.

Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chuyển biến tích cực, từng bước gắn kết với thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội. Công tác nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ được đẩy mạnh, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh của tỉnh (44). Chính sách hỗ trợ nhân rộng kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ công nghệ, đổi mới sáng tạo được triển khai hiệu quả (45); nhiều doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ đạt được những kết quả khả quan (46). Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có bước phát triển tích cực (47). Công tác chuyển đổi số được tập trung triển khai đồng bộ trên cả ba trụ cột là chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; tạo chuyển biến rõ nét từ nhận thức đến hành động của hệ thống chính trị và người dân. Hạ tầng số được quan tâm đầu tư, các nền tảng số, các hệ thống ứng dụng dùng chung đưa vào vận hành, phục vụ tốt công tác quản lý, điều hành, kết nối với hệ thống các bộ, ngành (48), thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Hoạt động báo chí, truyền thông có nhiều tiến bộ, đảm bảo tính thời sự, chuẩn xác, có trọng tâm, trọng điểm, tạo sự đồng thuận và niềm tin của xã hội, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương. Công tác thông tin đối ngoại triển khai theo hướng đổi mới, hiệu quả.

Công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được chú trọng. Công tác quản lý, sử dụng tài nguyên, nhất là tài nguyên đất đai đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm; chủ động thực hiện những giải pháp sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển, vì lợi ích chung. Cấp phép khai thác khoáng sản có mục tiêu, tập trung phục vụ cho các công trình đầu tư công, nhất là các công trình trọng điểm; chuyển dần sử dụng nước mặt thay thế nước ngầm để ứng phó với biến đổi khí hậu (49); công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng có nhiều chuyển biến tích cực; quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường chặt chẽ, không để xảy ra điểm nóng về môi trường. Tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý đất đai. Coi trọng công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái tự nhiên; bảo tồn các loài hoang dã, quý hiếm. Nâng cao năng lực quản lý, dự báo, ứng phó với thiên tai; nâng cao nhận thức, trách nhiệm cộng đồng trong phòng, chống thiên tai, chủ động ứng phó có hiệu quả những tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất, cuộc sống người dân.

b) Về phát triển văn hóa, xã hội, con người:

Công tác phòng, chống dịch Covid-19 được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chặt chẽ, nhất quán, quyết liệt và linh hoạt; phù hợp từng giai đoạn và đạt hiệu quả; huy động sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia công tác phòng, chống dịch bệnh (50). Long An và Tây Ninh là một trong những địa phương sớm kiểm soát tốt được dịch bệnh, giúp đảm bảo an toàn sức khỏe, tính mạng của Nhân dân; các hoạt động kinh tế-xã hội được phục hồi sớm và thích ứng trong trạng thái “bình thường mới” (51).

Chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng lên. Hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm đầu tư, củng cố, kiện toàn và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động; liên kết, hợp tác với bệnh viện tuyến trên được đẩy mạnh; trình độ chuyên môn và y đức của đội ngũ y, bác sĩ được nâng lên... từ đó đã có sự chuyển biến rõ nét về chất lượng, thái độ phục vụ người bệnh (52). Thực hiện tốt các giải pháp cải thiện chất lượng dân số (53). Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế ước đạt nghị quyết. Đẩy mạnh xã hội hóa phát triển bệnh viện, phòng khám đa khoa, dịch vụ y tế tư nhân chất lượng cao.

Công tác giáo dục-đào tạo được quan tâm, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo. Quy mô, hệ thống trường lớp được củng cố, đầu tư, nâng cấp đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân (54). Nâng cao chất lượng đào tạo và xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có phẩm chất, năng lực; đặc biệt Long An là một trong 6 tỉnh của cả nước thực hiện miễn, giảm học phí các cấp học. Sắp xếp mạng lưới, đổi mới nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp (55) gắn với thực tiễn phát triển và nhu cầu thị trường lao động; định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông được quan tâm, qua đó đã góp phần nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo. Cả hai tỉnh đều thành lập phân hiệu Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn hai tỉnh.

Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ngày càng đi vào thực chất hơn, được đông đảo người dân tích cực hưởng ứng tham gia, tạo ra hiệu quả chính trị-xã hội rộng lớn (56), gắn với thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI); chú trọng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng hình ảnh quê hương, con người Tây Ninh, Long An mến khách, thân thiện, nghĩa tình; đưa văn hóa thẩm thấu trong các ngành, lĩnh vực. Hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng, biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ tốt công tác tuyên truyền các ngày lễ, ngày kỷ niệm, sự kiện quan trọng và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Các thiết chế văn hóa ở cơ sở được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất và chính sách hỗ trợ, kinh phí duy trì, tổ chức các hoạt động và khai thác, quản lý các thiết chế văn hóa từng bước đi vào hiệu quả. Công tác xây dựng, bảo tồn các di sản văn hóa được phát huy, gìn giữ, các công trình văn hóa, di tích lịch sử gắn với giáo dục truyền thống cách mạng được tăng cường cùng với phát triển du lịch. Quan tâm xây dựng, phát triển, đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ, khuyến khích sáng tạo nghệ thuật, góp phần xây dựng văn hóa-con người Tây Ninh, Long An. Các hoạt động thể dục, thể thao được duy trì thực hiện và đạt kết quả tích cực. Công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo được quan tâm thực hiện hiệu quả, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị-xã hội và tăng cường niềm tin của nhân dân (57).

Các chính sách an sinh xã hội, người có công được chú trọng triển khai, thực hiện kịp thời, đảm bảo theo quy định. Đặc biệt, có sự quan tâm, chung tay của các đồng chí nguyên là lãnh đạo Trung ương, địa phương trong công tác vận động xã hội hóa vào các hoạt động an sinh xã hội và giáo dục. Hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm lo đời sống người có công và thân nhân được thực hiện tốt, thiết thực, nổi bật là đã phát động thành công phong trào huy động nguồn lực xã hội để xây dựng, sửa chữa nhà tình nghĩa. Triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 (58); đặc biệt tỉnh Tây Ninh luôn nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước. Các chính sách trợ giúp xã hội luôn được thực hiện đầy đủ, kịp thời, hiệu quả. Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em và bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội được thực hiện thường xuyên. Công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được chú trọng, bước đầu đạt được một số kết quả; thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp.

3. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại tiếp tục được tăng cường, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế-xã hội. Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố, thế trận quốc phòng toàn dân, biên phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc; khu vực phòng thủ cấp tỉnh được xây dựng vững mạnh, có chiều sâu, trở thành điểm sáng của cả nước. Lực lượng vũ trang được xây dựng theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống; hoàn thành nhiệm vụ diễn tập khu vực phòng thủ các cấp theo kế hoạch. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng, đường tuần tra biên giới và bố trí dân cư trên tuyến biên giới đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới và phát triển kinh tế vùng biên.

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định. Các lực lượng chức năng chủ động phòng ngừa, đấu tranh trấn áp tội phạm, tệ nạn xã hội; bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, sự kiện chính trị quan trọng. Phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc phát triển sâu rộng; lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở được kiện toàn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện nghiêm, không để phát sinh điểm nóng, khiếu kiện đông người; cải cách tư pháp đạt kết quả tích cực, chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng lên, bảo đảm công bằng, nghiêm minh, góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, hiện đại.

Hoạt động đối ngoại được triển khai chủ động, linh hoạt, đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả. Quan hệ hợp tác quốc tế được mở rộng, nhất là với các địa phương thuộc Vương quốc Campuchia, tiếp tục duy trì mối quan hệ truyền thống, đoàn kết, hữu nghị với 3 tỉnh Svay Rieng, Prey Veng, Tbong Khmum; thực hiện tốt phân giới, cắm mốc biên giới; phối hợp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại Campuchia. Hai tỉnh đã thiết lập và duy trì quan hệ hợp tác với nhiều địa phương nước ngoài và hơn 20 tổ chức phi chính phủ quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh, thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, tạo vị thế mới cho địa phương trong khu vực và trên trường quốc tế.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-3.png

- Nguyên nhân khách quan: Tình hình chính trị, xã hội, trật tự an ninh trong nước được đảm bảo; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách phù hợp, kịp thời. Hỗ trợ tích cực, có hiệu quả của các ban, bộ, ngành Trung ương, các tỉnh, thành phố và các tập đoàn kinh tế. Kết cấu hạ tầng của hai tỉnh ngày càng hoàn thiện do được đầu tư qua nhiều nhiệm kỳ, tính kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng tốt hơn.

- Nguyên nhân chủ quan: Sự đoàn kết, thống nhất trong tập thể Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và sự đồng thuận, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp. Công tác lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp với tinh thần quyết liệt, tập trung, sâu sát, linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ. Xác định đúng các Chương trình đột phá, các công trình trọng điểm để ưu tiên nguồn lực thực hiện và phát huy hiệu quả. Tập trung cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, “xem người dân là đối tượng phải phục vụ, doanh nghiệp là động lực, nguồn lực cho quá trình phát triển”, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Sự tham gia tích cực và hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội. Công tác bảo đảm quốc phòng, an ninh, nội chính, đối ngoại được sự quan tâm lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước; phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, của toàn dân tham gia và có tính kế thừa thành quả của các nhiệm kỳ trước.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-4.png

1. Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

Chất lượng đội ngũ cán bộ không đồng đều ở một số đơn vị, địa phương; một số cán bộ, công chức, viên chức ở xã, phường sau sắp xếp chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc thu hút cán bộ khoa học công nghệ, chuyên gia ở một số lĩnh vực còn hạn chế; tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế chưa đạt mục tiêu đề ra. Công tác phát triển tổ chức đảng, kết nạp đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước còn ít, gặp nhiều khó khăn.

Công tác dân vận chính quyền, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở có nơi chưa quan tâm đúng mức. Một số nơi đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội còn thiếu đồng bộ; công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên chưa sát thực tiễn, thiếu sáng tạo, hiệu quả chưa cao.

Công tác kiểm tra, giám sát ở một số cấp ủy chưa toàn diện, hiệu quả; có mặt chưa đáp ứng yêu cầu; việc nắm tình hình, phân tích, nhận diện, việc kiểm tra dấu hiệu vi phạm còn hạn chế, chưa sâu nên chậm phát hiện, ngăn chặn các hạn chế, khuyết điểm.

Công tác quản lý Nhà nước một số lĩnh vực có lúc còn gặp khó khăn, lúng túng, nhất là lĩnh vực quản lý đất đai, xây dựng; ý thức kỷ luật, năng lực của một số cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu.

Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội còn thiếu đồng bộ giữa các cấp, hiệu quả chưa cao. Nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo chưa được tổng kết, nhân rộng kịp thời, thiếu tính bền vững. Công tác giám sát, phản biện xã hội có nơi thực sự chưa tốt, nội dung chưa sát với những vấn đề thiết thực của người dân; chất lượng, hiệu quả phản biện chưa đồng đều, việc theo dõi, phản hồi sau giám sát còn hạn chế.

2. Về kinh tế, khoa học công nghệ

Còn một số chỉ tiêu chưa Nghị quyết đề ra. Công tác lập, triển khai quy hoạch đô thị, nông thôn và các quy hoạch khác theo quy định có trường hợp còn chậm, gây ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư.

Sản xuất nông nghiệp còn một số trường hợp tự phát; hiệu quả kinh tế một số cây trồng, vật nuôi chưa cao. Phát triển kinh tế tập thể chưa đáp ứng yêu cầu; liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản có chuyển biến nhưng chuỗi giá trị hình thành chưa bền vững; chưa nhân rộng nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Sản xuất công nghiệp còn gặp khó khăn do đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu; một bộ phận doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất; một số dự án lớn chậm triển khai. Công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao mới bước đầu hình thành, hiệu quả chưa rõ nét; còn nhiều ngành công nghiệp gia công, thâm dụng lao động, giá trị gia tăng thấp. Hiệu quả hoạt động một số khu, cụm công nghiệp chưa cao, tỷ lệ lấp đầy chưa đạt yêu cầu, giá thành cho thuê thiếu tính cạnh tranh. Công tác xử lý một số dự án đầu tư ngoài ngân sách tồn đọng kéo dài còn chậm, chưa đạt hiệu quả cao.

Hạ tầng thương mại, dịch vụ logistic và du lịch chưa tương xứng với tiềm năng. Hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, liên tỉnh, kết nối sân bay, cảng tiến độ thực hiện chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Hạ tầng phục vụ xuất, nhập khẩu tại một số cửa khẩu chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Một số dự án, công trình trọng điểm tạo động lực tăng trưởng triển khai chậm.

Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo kết quả chưa rõ nét, chưa trở thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội.

3. Về văn hóa, xã hội, con người

Một số nơi chất lượng hệ thống y tế công lập còn hạn chế, dịch vụ y tế còn bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân; nguồn nhân lực ngành y tế chưa đáp ứng yêu cầu; còn xảy ra tình trạng thiếu thuốc, giường bệnh, vật tư y tế.

Mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông còn tình trạng thiếu trường, lớp ở các vùng tập trung các khu, cụm công nghiệp; tình trạng thiếu giáo viên chưa được xử lý dứt điểm. Tỷ lệ phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở và sau tốt nghiệp trung học phổ thông vào học nghề còn thấp so với mục tiêu, chưa đạt như kỳ vọng. Chất lượng nguồn nhân lực khu vực tư nhân chậm được cải thiện, thiếu nhân lực có trình độ kỹ thuật cao.

Hạ tầng xã hội mặc dù đã nhận được sự quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Cải cách hành chính, môi trường đầu tư chưa đồng bộ, kết quả các chỉ số PAPI, SIPAS, PAR INDEX chậm được cải thiện.

4. Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Tình hình ngoại biên còn nhiều vấn đề quan tâm có tác động trực tiếp, lâu dài đến công tác chỉ đạo triển khai nhiệm vụ đảm bảo quốc phòng-an ninh. Tội phạm truyền thống, phi truyền thống, nhất là tội phạm về ma túy, lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, sản xuất và buôn bán hàng giả còn tiềm ẩn, phức tạp, đối tượng phạm tội ngày càng trẻ hóa.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-5.png

- Nguyên nhân khách quan: Tình hình kinh tế, chính trị thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 chưa có tiền lệ, vượt ngoài khả năng dự báo. Một số cơ chế, chính sách còn chưa đồng bộ, chưa theo kịp yêu cầu của phát triển, nhất là các quy định quản lý về doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, xây dựng, quy hoạch... còn chồng chéo, bất cập, chưa đầy đủ, gây lúng túng, khó khăn trong xử lý các vấn đề cụ thể. Nhu cầu vốn đầu tư rất lớn nhưng việc huy động nguồn lực còn khó khăn, có công trình trọng điểm chậm triển khai.

- Nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể hóa một số chỉ tiêu, nhiệm vụ chưa sát với thực tiễn; chưa quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ được phân công; chưa có sự kiểm tra, giám sát, đôn đốc thường xuyên, chưa nêu cao tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”. Năng lực của một số cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao; một vài cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, chưa thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, vi phạm bị xử lý kỷ luật. Công tác dự báo, đánh giá có lúc chưa sát với diễn biến tình hình; công tác lãnh đạo có lúc còn bị động, chưa có giải pháp để chuẩn bị sẵn điều kiện đón đầu, thu hút làn sóng chuyển dịch trong và ngoài nước. Công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh, nội chính, đối ngoại giữa các ngành, các cấp có lúc chưa chặt chẽ, chưa đáp ứng yêu cầu.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-12.png

1. Đánh giá chung

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ và nhân dân Long An và Tây Ninh đã đạt được nhiều “điểm sáng” trên các lĩnh vực: Quy mô nền kinh tế tăng nhanh, GRDP bình quân đầu người tăng cao so với đầu nhiệm kỳ; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên một cách rõ rệt, có sự chuyển mình, khởi sắc rõ nét từ thành thị đến nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, xanh-sạch-đẹp; khoảng cách về mức sống của người dân giữa khu vực thành thị và nông thôn được thu hẹp. Quy hoạch tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là cơ sở quan trọng để triển khai, huy động, phát huy tối đa các nguồn lực đầu tư phát triển đi vào chiều sâu. Kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và phát huy hiệu quả. Đặc biệt, kết cấu hạ tầng giao thông phục vụ phát triển công nghiệp và đô thị vùng kinh tế trọng điểm bước đầu được đầu tư đồng bộ, hiện đại, có tầm nhìn chiến lược và mở ra không gian phát triển mới. Công tác xúc tiến và thu hút đầu tư đạt nhiều kết quả quan trọng. Long An được bình chọn trong nhóm 10 địa phương hấp dẫn doanh nghiệp lớn cả nước năm 2024, thu hút nhiều nhà đầu tư lớn, các tập đoàn đa quốc gia; Tây Ninh đạt nhiều thành tựu trong lĩnh vực du lịch, trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn hàng đầu của cả nước.

Văn hóa-xã hội có nhiều tiến bộ trên tất cả các lĩnh vực. Các chính sách an sinh xã hội được đảm bảo thực hiện đầy đủ, kịp thời, nhất là việc huy động nguồn lực xã hội để xây dựng, sửa chữa nhà tình nghĩa và chung tay xóa nhà tạm, dột nát, cũng như phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh. Hoàn thành 100% việc xây dựng, sửa chữa và đưa vào sử dụng nhà ở cho người có công với cách mạng; hoàn thành 100% việc xây dựng, sửa chữa và đưa vào sử dụng nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn Trung ương. Các chỉ số liên quan về chất lượng dân số và phát triển con người được cải thiện về nhiều mặt, là yếu tố tiên quyết góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Công tác giảm nghèo được thực hiện hiệu quả, thuộc tốp đầu cả nước; các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, dịch vụ công phục vụ nhân dân được quan tâm triển khai thực hiện, đạt nhiều thành tựu, góp phần thúc đẩy công bằng xã hội.

image-1.png
Nhiều di sản văn hóa được trình diễn tại núi Bà Đen.

Quốc phòng-an ninh tiếp tục được tăng cường, vững mạnh. Các hoạt động đối ngoại và hội nhập ngày càng đi vào chiều sâu, phát triển toàn diện, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của hai tỉnh, tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được thực hiện quyết liệt, hiệu quả, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cả hệ thống chính trị.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tạo được sự đồng thuận, tin tưởng của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp. Phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hành động của Đảng bộ, chính quyền các cấp trong tỉnh được quan tâm đổi mới, với quan điểm nhất quán “xem người dân là đối tượng phải phục vụ, xem doanh nghiệp là động lực, nguồn lực cho quá trình phát triển”. Đặc biệt đã xây dựng và triển khai Đề án hợp nhất Đảng bộ tỉnh Tây Ninh và Đảng bộ tỉnh Long An, với tinh thần đoàn kết, xây dựng, hướng tới tương lai.

Nhìn chung, những thành tựu toàn diện, nổi bật đạt được trong thời gian qua đã tạo nên bức tranh phát triển đồng đều, khởi sắc của tỉnh Long An và tỉnh Tây Ninh (trước khi hợp nhất), minh chứng sinh động cho tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên và khát vọng phát triển chung của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân cả hai tỉnh. Đây chính là nền tảng vững chắc để xây dựng tỉnh Tây Ninh sau hợp nhất năng động, giàu tiềm lực, sẵn sàng cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế: Phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, thiếu lao động kỹ thuật cao; liên kết sản xuất nông nghiệp chưa bền vững; công nghiệp phát triển theo chiều rộng, thâm hụt lao động, đi vào chiều sâu còn ít; hạ tầng, nhất là giao thông liên kết vùng chưa đáp ứng yêu cầu.

2. Bài học kinh nghiệm

- Thứ nhất, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đoàn kết, thống nhất cao trong nội bộ, trước nhất là trong Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền; phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội là nhân tố quan trọng cho việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đề ra.

- Thứ hai, đổi mới tư duy, thay đổi tác phong, lề lối làm việc, chủ động, năng động, đổi mới, sáng tạo và đề cao vai trò, trách nhiệm, bản lĩnh, tính nêu gương của người đứng đầu. Đề cao ý chí tự lực, tự cường; phát huy tối đa các nguồn lực, không trông chờ, ỷ lại vào cấp trên. Kế thừa, phát huy truyền thống quê hương Long An-Tây Ninh và những thành tựu, kinh nghiệm của thế hệ trước.

- Thứ ba, xác định đúng các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, có tính đột phá để tập trung, dồn sức thực hiện. Phát triển kinh tế phải đi đôi với ổn định xã hội, phát triển văn hóa, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường bền vững.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-1.png

I. CƠ HỘI, THUẬN LỢI

Sự phát triển bùng nổ, đột phá của các công nghệ mới và hội nhập quốc tế vẫn là xu thế lớn, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội; kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh là xu thế phát triển trong những năm tới.

Trung ương đã ban hành nhiều chính sách quan trọng về cải cách bộ máy, hội nhập quốc tế, thể chế, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân (59). Hệ thống pháp luật được rà soát, hoàn thiện, từng bước tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các điểm nghẽn về thể chế; tăng cường phân cấp, phân quyền tạo điều kiện thuận lợi trong điều hành, phát triển kinh tế-xã hội. Hội nhập quốc tế trong tình hình mới, các hiệp định thương mại, đầu tư quốc tế mà Việt Nam tham gia mở ra cơ hội mới; dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục có sự thay đổi mạnh mẽ, tác động tích cực tới Việt Nam. Tình hình quốc phòng-an ninh được giữ vững; công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được đẩy mạnh.

Trong bối cảnh đó, sau khi hợp nhất, tỉnh Tây Ninh được định vị với vị thế mới, là địa phương phát triển năng động, có diện tích tự nhiên khoảng 8.536km², dân số gần 2,96 triệu người; tiếp giáp trực tiếp với Thành phố Hồ Chí Minh từ hướng đông sang tây; có đường biên giới đất liền với Campuchia dài khoảng 369km; quy mô nền kinh tế đứng thứ 10 cả nước; địa hình, thổ nhưỡng đa dạng, thích hợp phát triển nhiều mũi nhọn kinh tế. Sự mở rộng không gian phát triển không chỉ mang lại cho tỉnh lợi thế đặc biệt về địa kinh tế, tạo điều kiện kết nối vùng Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long, gắn với trục hành lang kinh tế xuyên Á, mà còn định vị Tây Ninh là một trong những trung tâm liên kết vùng và cửa ngõ giao thương quốc tế của cả nước, mở ra thời cơ bứt phá trong hợp tác kinh tế, thương mại biên giới và logistics quốc tế.

Cùng với lợi thế về địa kinh tế, nội bộ tỉnh Tây Ninh đoàn kết thống nhất, khát vọng vươn lên là nền tảng vững chắc cho sự phát triển; cải cách môi trường đầu tư luôn được quan tâm, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội ngày càng được củng cố; các dự án lớn dự kiến hoàn thành và đi vào hoạt động, đặc biệt là dự án hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, liên tỉnh mở ra cơ hội hợp tác, thu hút đầu tư cho tỉnh.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-6.png

Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột khu vực, các vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu... gia tăng, tác động tiêu cực đến quá trình phát triển bền vững. Bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra đã từng bước khắc phục, song có những mặt vẫn còn diễn biến phức tạp (60); nhất là diễn biến phức tạp của tư tưởng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Trong tỉnh, nhu cầu đầu tư phát triển giai đoạn 2026-2030 theo quy hoạch tỉnh là rất lớn, đặc biệt là các dự án hạ tầng chiến lược nhằm kết nối không gian phát triển mới; tuy nhiên, nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu. Năng lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh còn hạn chế; nội lực chưa thật sự vững mạnh. Chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới. Công tác tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền 2 cấp sau sáp nhập còn nhiều vấn đề cần giải quyết; tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm vẫn là lực cản lớn đối với hiệu quả quản lý, điều hành và thu hút đầu tư.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-7.png

1. Trong quá trình phát triển phải lấy con người làm trung tâm; doanh nghiệp là động lực; nguồn lực làm động lực nền tảng; đổi mới sáng tạo là then chốt, cơ chế, chính sách là đột phá, số hóa là phương tiện, hạ tầng là bệ đỡ để phát triển nền kinh tế số, xã hội số và chính quyền số toàn diện. Gắn phát triển của tỉnh với vùng và quốc gia; khai thác hiệu quả lợi thế liên kết với Thành phố Hồ Chí Minh, tăng cường liên kết vùng Đông Nam Bộ-Đồng bằng sông Cửu Long-Campuchia, coi phát triển liên tỉnh là động lực mới để đột phá.

2. Phát triển toàn diện-đột phá-bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội và môi trường. Hệ thống chính trị phải thích ứng kịp thời và hiệu quả; nhận diện và tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, khai thác tốt tiềm năng, lợi thế, huy động hiệu quả nguồn lực; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo chuyển biến mạnh mẽ về cải cách hành chính, môi trường đầu tư. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa-xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia bảo đảm an sinh xã hội.

3. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển; phát huy truyền thống cách mạng, xây dựng giá trị, bản sắc văn hóa quê hương Tây Ninh, con người Tây Ninh trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội; khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; thu hút, trọng dụng nhân tài.

4. Phát huy sức mạnh của Nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân. Củng cố, tăng cường tiềm lực, xây dựng và phát huy thế trận quốc phòng-an ninh; xây dựng lực lượng vũ trang địa phương cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển.

5. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng; nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả”.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-8.png

1. Mục tiêu chung

Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, tỉnh Tây Ninh có nền kinh tế phát triển năng động, bền vững của vùng liên kết Đông Nam Bộ-Đồng bằng sông Cửu Long, đóng vai trò là cực tăng trưởng của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là đầu mối giao thông chiến lược kết nối kinh tế biên mậu quốc tế với Campuchia. Đẩy mạnh hội nhập, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, phát triển xanh và thích ứng biến đổi khí hậu, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo tồn hệ sinh thái. Xã hội văn minh, môi trường sống an toàn, chính quyền kiến tạo, quốc phòng-an ninh được đảm bảo vững chắc, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thịnh vượng.

2. Các chỉ tiêu cụ thể

- Chỉ tiêu số 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân 5 năm giai đoạn 2026-2030 đạt 10 - 10,5%.

- Chỉ tiêu số 2: Cơ cấu kinh tế đến năm 2030: Khu vực I (nông-lâm-thủy sản) 13 - 14%; Khu vực II (công nghiệp-xây dựng) 55 - 56%; Khu vực III (thương mại-dịch vụ) 26-27%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 4-5%.

- Chỉ tiêu số 3: GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt: 8.000-8.500 USD (tương đương 220-230 triệu đồng).

- Chỉ tiêu số 4: Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 94 triệu đồng/người/năm.

- Chỉ tiêu số 5: Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đến năm 2030 đạt 30%.

- Chỉ tiêu số 6: Thu ngân sách Nhà nước giai đoạn 2026-2030 tăng 50% so với giai đoạn 2021-2025.

- Chỉ tiêu số 7: Năng suất lao động xã hội tăng bình quân 8-9%/năm.

- Chỉ tiêu số 8: Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn so với tổng sản phẩm trên địa bàn đạt 34-35%.

- Chỉ tiêu số 9: Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2030 đạt trên 90%.

- Chỉ tiêu số 10: Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 97%.

- Chỉ tiêu số 11: Đến năm 2030, 60% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó, tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm 5% lực lượng lao động.

- Chỉ tiêu số 12: Số bác sĩ/vạn dân 11 bác sĩ.

- Chỉ tiêu số 13: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao theo tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi dưới 16%

- Chỉ tiêu số 14: Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt 79%.

- Chỉ tiêu số 15: Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 80%; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35%.

- Chỉ tiêu số 16: Đến năm 2030, không còn hộ nghèo (theo chuẩn nghèo Trung ương giai đoạn 2025-2030).

- Chỉ tiêu số 17: Tỷ lệ đô thị hóa 45-50%.

- Chỉ tiêu số 18: Chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) đạt trên 55%.

- Chỉ tiêu số 19: Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch ở đô thị là 85%, ở nông thôn là 80%.

- Chỉ tiêu số 20: Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt: Khu vực đô thị 100% và nông thôn 98%.

- Chỉ tiêu số 21: Hằng năm, tỷ lệ kết nạp đảng viên mới phấn đấu đạt từ 3% (15.200 đảng viên) trở lên trên tổng số đảng viên của đảng bộ.

- Chỉ tiêu số 22: Hằng năm, có trên 90% tổ chức cơ sở đảng, đảng viên được đánh giá, xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-9.png

1. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoạt động hiệu quả sau sắp xếp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trước hết là người đứng đầu phải thực sự tiêu biểu về chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị.

2. Tập trung nguồn lực thực hiện có hiệu quả các chỉ tiêu chủ yếu, các công trình trọng điểm, các khâu đột phá. Điều chỉnh và triển khai hiệu quả Quy hoạch tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, định hướng không gian phát triển, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh sau sáp nhập. Ưu tiên phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.

3. Phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chỉ số phát triển con người, thực hiện hiệu quả mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa, gắn với phát triển du lịch; đẩy mạnh giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống văn minh, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân.

4. Tập trung thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nội chính và đối ngoại thực chất, hiệu quả; giữ vững chủ quyền biên giới, bảo đảm an ninh, an toàn phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và an dân.

VI. CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ (đính kèm Phụ lục V)

1. Đột phá về cải cách hành chính và các cơ chế, chính sách đặc thù của địa phương tạo động lực phát triển.

2. Đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; chuyển đổi xanh, gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

3. Đột phá về huy động mọi nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, kết nối các vùng động lực phát triển.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-10.png

1. Đường trục động lực Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Mộc Bài, Gò Dầu-Xa Mát.

3. Đường trục động lực Đức Hoà kết nối Thành phố Hồ Chí Minh

4. Đường trục động lực Thành phố Hồ Chí Minh-Tây Ninh-Đồng Tháp (trục Đường tỉnh ĐT.827E).

5. Đường trục động lực ĐT.789-ĐT.787B-N8-đường Hồ Chí Minh-đường Vành đai 4-Cao tốc CT.01 (Thành phố Hồ Chí Minh-Trung Lương)-Quốc lộ QL.62-Tân An.

6. Trục động lực đường thủy sông Vàm Cỏ Đông.

7. Đường trục động lực Bình Dương-Tây Ninh-Long An.

8. Đường trục động lực Bình Chánh-Vành đai 4-Cửa khẩu Mỹ Quý Tây (đường kết nối Bình Chánh-Lương Hòa-Bình Hòa Bắc-Mỹ Quý Tây).

9. Đường trục động lực Tân An-Bình Hiệp.

10. Đầu tư Trung tâm Hành chính của tỉnh.

11. Bảo tàng-Thư viện tỉnh.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-11.png

1. Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị tỉnh

Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đạo đức: Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu và sự đồng hành của toàn Đảng bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu của các cấp ủy trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức. Công tác tư tưởng của Đảng phải luôn bám sát nhiệm vụ chính trị ở từng thời điểm cụ thể làm cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn thông suốt, thống nhất, đồng lòng thực hiện các mục tiêu do cấp ủy đề ra. Nâng cao chất lượng ban hành các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng, xác định rõ trách nhiệm của các tập thể và cá nhân trong triển khai thực hiện. Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn đặt ra, đặc biệt là những vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội. Tạo môi trường dân chủ, cởi mở để cán bộ, đảng viên và Nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, xây dựng Đảng, xây dựng quê hương. Tiếp tục nghiên cứu giải pháp đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, quán triệt, triển khai nghị quyết của Đảng; xây dựng quy trình và cơ chế đánh giá hiệu quả sau học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng; đổi mới hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhận diện sớm các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ theo tinh thần Chỉ thị số 50-CT/TW về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới.

Nắm chắc và dự báo sát đúng tình hình tư tưởng, nghiên cứu dư luận và tâm trạng xã hội; kịp thời xử lý thông tin và định hướng tư tưởng, dư luận gắn với giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của nhân dân, các vấn đề nhạy cảm, phức tạp phát sinh, đảm bảo thống nhất tư tưởng trong Đảng và đồng thuận xã hội. Quan tâm đầu tư, đổi mới công tác truyền thông, tuyên truyền; đầu tư phát triển, thực hiện có hiệu quả hoạt động của các cơ quan truyền thông, báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật của tỉnh. Đầu tư xây dựng cơ chế, chính sách phát triển, phát huy đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo, phóng viên, biên tập viên; thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội.

Thường xuyên củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW; duy trì hằng năm các lớp tập huấn nghiệp vụ cho các lực lượng nòng cốt; chủ động phát hiện, kịp thời xử lý, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong việc đổi mới nội dung và hình thức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu, độc của các thế lực thù địch, cơ hội trên mặt trận tư tưởng, trên internet, mạng xã hội. Phát huy vai trò của các lực lượng tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ tỉnh đến cơ sở trong việc phủ xanh thông tin tích cực góp phần đẩy lùi thông tin tiêu cực.

Kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Kết luận số 21-KL/TW (khóa XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Quy định số 144-QĐ/TW quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới và thực hiện tốt quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, khơi dậy tinh thần tự nguyện, tính tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Tăng cường xây dựng chuẩn mực văn hóa tiết kiệm, liêm chính trong đội ngũ cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu. Triển khai xây dựng không gian văn hóa Hồ Chí Minh ở các địa phương, cơ quan, đơn vị làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không ngừng lan toả, trở thành cách nghĩ, nếp sống của đảng viên và nhân dân tỉnh nhà. Kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, kiên quyết xử lý đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Tiếp tục rà soát, thực hiện quyết liệt việc cấu trúc lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tỉnh theo phương châm “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả” gắn tinh giản biên chế, sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác xây dựng đảng, cải cách hành chính, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; bảo đảm vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở. Chú trọng đẩy mạnh xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở đảng và đảng viên khu vực ngoài Nhà nước.

Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và phát triển các nền tảng số an toàn trong công tác quản lý đảng viên và sinh hoạt đảng. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên, nhất là vùng tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, khu dân cư; quan tâm kết nạp đảng viên trong đội ngũ trí thức, học sinh, sinh viên, công nhân, người lao động, cán bộ quản lý trong doanh nghiệp.

Chú trọng tập trung phát triển nguồn nhân lực khu vực công đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh, yêu cầu chuyển đổi số, chuyển từ cơ chế quản lý sang quản trị phục vụ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là người đứng đầu, thực sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức, năng lực nổi trội, dám đổi mới, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tiếp tục quan tâm sắp xếp, đào tạo đội ngũ cán bộ cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ở cơ sở. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả các khâu trong công tác cán bộ. Chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn, bố trí cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ khoa học công nghệ, có năng lực số, trình độ ngoại ngữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý; kiên quyết sàng lọc, đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ không đáp ứng yêu cầu về phẩm chất, năng lực, uy tín. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, quản trị số, kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Nâng cao chất lượng ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng theo hướng đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, tính dự báo cao, bám sát thực tiễn; có sự phân cấp, phân quyền, quy trách nhiệm cụ thể; phát huy tinh thần tự lực, tự cường, chủ động, đổi mới, sáng tạo. Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp, lề lối làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng thực sự khoa học, dân chủ, sát với thực tiễn, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng từ tỉnh đến cơ sở. Xây dựng văn hóa trong Đảng, phát huy tính nêu gương, tinh thần phục vụ tận tụy của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

image-7.jpg
Đại biểu dự Đại hội Đảng bộ phường Long An lần thứ 1, nhiệm kỳ 2025-2030 biểu quyết các chỉ tiêu Nghị quyết.

Nâng cao hơn nữa nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trước hết là trong cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; thường xuyên hướng dẫn, theo dõi cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số toàn diện trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, bảo đảm tính khách quan, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ và khả thi. Ủy ban kiểm tra các cấp tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao, trọng tâm là kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, tập trung vào địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội; đồng thời, tăng cường giám sát thường xuyên, chủ động phát hiện, cảnh báo, phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa, góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

Tập trung kiểm tra, giám sát về kiểm soát quyền lực của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền theo quy định; đặc biệt là trong tổ chức và hoạt động của cấp xã (mới); xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiên quyết khắc phục những hạn chế, yếu kém, tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính.

2. Nhóm giải pháp phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

2.1. Nâng cao chất lượng quy hoạch, phát triển đô thị

Thực hiện điều chỉnh và triển khai hiệu quả Quy hoạch tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, cơ cấu lại không gian phát triển, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh sau sáp nhập. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng các loại hình quy hoạch khác; triển khai các giải pháp hình thành các trung tâm, vùng động lực, vành đai kinh tế, vành đai biên giới; có kế hoạch đầu tư xây dựng trung tâm hành chính tỉnh, trung tâm hành chính cấp xã đảm bảo đúng phù hợp với quy hoạch và điều kiện thực tế.

Tổ chức lập chương trình phát triển đô thị phù hợp với quy hoạch tỉnh, đẩy nhanh và nâng cao chất lượng đô thị hóa; phát triển hệ thống đô thị gắn với hiệu quả kinh tế đô thị; phát triển đô thị xanh, đô thị thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, mang nét đặc trưng riêng của địa phương gắn với các công trình kiến trúc tạo điểm nhấn.

Chú trọng phát triển các đô thị mới quy mô lớn, hiện đại gắn kết với Thành phố Hồ Chí Minh và vùng đô thị công nghiệp, tạo động lực mới cho sự phát triển hệ thống đô thị của tỉnh (61). Đa dạng hóa các loại hình nhà ở, khuyến khích, đẩy mạnh đầu tư phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân. Phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội theo Kế hoạch đề ra.

Tiếp tục đầu tư, đẩy mạnh thu hút đầu tư nâng cấp, chỉnh trang các đô thị hiện hữu. Phát triển các khu dân cư, xây dựng nông thôn mới đảm bảo tính toàn diện, bền vững, thực chất, hiệu quả gắn với công nghiệp hóa, đô thị hóa vì lợi ích của người dân.

Tiếp tục từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại và cải thiện môi trường đô thị, nông thôn, bao gồm các công trình thu gom, xử lý nước thải, rác thải tập trung; hệ thống cấp nước, thoát nước; đồng thời, phát triển cây xanh, chiếu sáng và các hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và bảo đảm phát triển bền vững.

2.2. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế

Chuyển dịch mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu; lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; duy trì tốc độ tăng trưởng công nghiệp ở mức cao làm động lực cho tăng trưởng chung của nền kinh tế; hình thành trung tâm tăng trưởng, có năng lực cạnh tranh trong vùng; triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách vượt trội, đột phá áp dụng cho khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, kết nối hai nền kinh tế Việt Nam-Campuchia.

Phát triển nông nghiệp theo hướng chuyển đổi tư duy kinh tế nông nghiệp, ứng dụng khoa học-công nghệ, thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn với bảo vệ môi trường. “Thực hiện quản lý, sử dụng đất lúa một cách hiệu quả, linh hoạt và bền vững giúp nâng cao thu nhập cho nông dân, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và bảo vệ môi trường. Phát triển hạ tầng nông nghiệp góp phần chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo hướng sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp, trong đó chú trọng phát triển vùng chuyên canh lúa của địa phương gắn với Đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao. Tập trung các giải pháp nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm chủ lực của tỉnh, các vùng sản xuất các cây công nghiệp, cây ăn quả, các sản phẩm chăn nuôi chủ lực, có thế mạnh của tỉnh gắn với công nghiệp chế biến. Nghiên cứu, phát triển giống cây trồng mới, hỗ trợ nông dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chất lượng cao. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi trang trại tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, đảm bảo an toàn sinh học. Tập trung phát triển thủy sản ứng dụng các quy trình công nghệ mới, công nghệ tuần hoàn, thân thiện với môi trường, hướng đến giảm phát thải để phát triển bền vững theo quy hoạch. Phát triển lâm nghiệp gắn với chủ trương xã hội hóa việc bảo vệ, phát triển rừng. Nâng cao chất lượng rừng trồng; bảo vệ và phát triển diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ nhằm duy trì độ che phủ rừng ổn định ở mức 9,0%.

Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp xanh với quy mô lớn; công nghiệp chế biến gắn liền với phát triển nông nghiệp, nông thôn. Ưu tiên thu hút các nhà đầu tư chiến lược, thu hút phát triển Khu phức hợp Mộc Bài-Xuyên Á, Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, Khu kinh tế cửa khẩu Long An; phát triển hạ tầng, hệ sinh thái công nghiệp, đô thị theo hướng hiện đại, bền vững. Phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế về năng lượng tái tạo, trong đó tập trung hoàn thành thủ tục pháp lý và đưa vào vận hành, khai thác các dự án năng lượng tái tạo theo quy hoạch để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, chuyển đổi xanh; thúc đẩy đưa vào hoạt động nhà máy LNG Long An I, xem đây là dự án tạo lực đẩy kinh tế lớn của Tây Ninh trong thời gian tới. Đầu tư, khai thác để phát triển nhanh các khu, cụm công nghiệp theo quy hoạch và các dự án công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao, lan tỏa rộng; nâng cao tỷ lệ lấp đầy, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư và hiệu quả hoạt động các khu, cụm công nghiệp và các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp hiện có.

Phát triển ngành thương mại, dịch vụ ngang xứng tầm với các tỉnh trong vùng Đông Nam Bộ: Phát triển đa dạng các loại hình thương mại, dịch vụ chất lượng cao như: siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, khu vui chơi giải trí, khách sạn cao cấp...; chú trọng phát triển thương mại điện tử và có giải pháp quản lý; đầu tư nâng cấp, nâng cao hiệu quả hoạt động và nét đặc trưng các chợ truyền thống. Phát triển dịch vụ logistics thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, đưa Tây Ninh trở thành cửa ngõ, trung tâm trung chuyển hàng hóa, kết nối các tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ và thị trường Campuchia, vùng đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh. Thúc đẩy mạnh mẽ, tạo chuyển biến tích cực, toàn diện về cơ sở hạ tầng đáp ứng sự tăng trưởng nhanh về lượng khách du lịch, thúc đẩy phát triển đa dạng sản phẩm du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng. Tạo điều kiện, tập trung đầu tư hoàn thành Quy hoạch chung khu du lịch quốc gia núi Bà Đen trở thành khu du lịch đẳng cấp, đặc sắc mang tầm quốc tế; khai thác hiệu quả các điểm du lịch tiềm năng như: Vườn quốc gia Lò Gò Xa Mát, Di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền nam, Khu du lịch Làng nổi Tân Lập, Khu du lịch Cánh đồng bất tận, tiếp tục thực hiện dự án trồng rừng kết hợp phát triển du lịch sinh thái tại khu vực đảo Nhím hồ Dầu Tiếng,… phát triển du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp, nông thôn ở vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh; du lịch nghỉ dưỡng ven đô, dịch vụ giải trí ở khu vực giáp với Thành phố Hồ Chí Minh; du lịch văn hóa, lịch sử, khảo cứu và du lịch tâm linh ở nơi có điều kiện.

2.3. Huy động mọi nguồn lực, đa dạng hình thức đầu tư; hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại bảo đảm kết nối thông suốt

Tăng cường hợp tác công tư, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, lấy đầu tư công dẫn dắt và kích hoạt mọi nguồn lực của xã hội. Tập trung, ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng trên 6 lĩnh vực quan trọng (gồm: hạ tầng giao thông chiến lược; hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng số; hạ tầng khu kinh tế, khu, cụm công nghiệp; hạ tầng du lịch, dịch vụ; hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo; hạ tầng nông nghiệp, nông thôn).

Ưu tiên hình thành và phát triển trục giao thông bắc-nam, đông-tây, góp phần tăng cường giao lưu, trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các địa phương, mở rộng không gian phát triển, thúc đẩy phát triển kinh tế. Chú trọng phát triển mạng lưới giao thông phục vụ kết nối các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu của tỉnh với các sân bay, cảng biển; trong đó chú trọng khai thác hiệu quả Cảng Quốc tế Long An; nghiên cứu, đề xuất nâng tĩnh không các cầu trên tuyến sông Vàm Cỏ Đông để nâng cao năng lực lưu thông hàng hóa, phát triển giao thông thủy, cảng thủy nội địa, kết hợp với mạng lưới logistic để vận chuyển hàng hóa từ đầu nguồn đến Cảng quốc tế Long An. Tăng cường đầu tư hệ thống giao thông kết nối các xã biên giới, gắn với phát triển kinh tế cửa khẩu và thương mại biên giới, tạo động lực khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế khu vực biên giới.

2.4. Đẩy mạnh cải cách hành chính; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp

Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phấn đấu đạt thứ hạng tốt của cả nước về nhóm các chỉ số: Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số xanh cấp tỉnh (PGI), Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS). Đổi mới hình thức tiếp xúc, đối thoại với doanh nghiệp nhằm kịp thời tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn trong đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thường xuyên, kịp thời tổ chức rà soát, xử lý đối với các dự án chậm tiến độ, vi phạm pháp luật.

Hỗ trợ, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, gia tăng hoạt động đầu tư, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Triển khai hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân để kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực quan trọng đóng góp vào tăng trưởng, tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương. Thúc đẩy, tạo bước đột phá trong phát triển và nâng cao chất lượng, quy mô của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hợp tác, hợp tác xã. Chuẩn bị tốt kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất, các chính sách ưu đãi để thu hút các doanh nghiệp tiên phong, đầu tàu dẫn dắt, lan tỏa trong nền kinh tế. Phát huy vai trò của các hội, hiệp hội doanh nghiệp trong hỗ trợ thành viên, kết nối với chính quyền, phát triển thị trường.

2.5. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong tất cả các ngành, lĩnh vực nhằm nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Nâng cao tỷ trọng đóng góp của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vào tăng trưởng với lộ trình cụ thể để phấn đấu đến năm 2030 đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GRDP; phấn đấu đến năm 2030 chỉ số xếp hạng đánh giá mức độ chuyển đổi số của tỉnh nằm trong top 10 tỉnh dẫn đầu cả nước. Ban hành Đề án về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; chuyển đổi xanh, gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Chủ động tiếp cận và ứng dụng công nghệ hiện đại, hiệu quả và phù hợp với xu thế phát triển mới; mở rộng hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ. Xây dựng, kết nối, thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, dịch vụ.

Phát triển hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số; mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số phục vụ người dân và doanh nghiệp. Hướng dẫn tri thức số, kỹ năng số cho người dân, thúc đẩy phát triển xã hội số; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng trong mọi hoạt động. Phấn đấu xếp hạng về chuyển đổi số (DTI) của tỉnh thuộc nhóm 10 tỉnh, thành dẫn đầu cả nước.

2.6. Khai thác hiệu quả các nguồn thu; phấn đấu thu ngân sách Nhà nước giai đoạn 2026-2030 tăng 50% so với giai đoạn 2021-2025

Khai thác hiệu quả các nguồn thu, phấn đấu thu ngân sách Nhà nước giai đoạn 2026-2030 tăng 50% so với giai đoạn 2021-2025. Tăng cường quản lý thu, chống thất thu, mở rộng cơ sở thu, đồng thời thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch để gia tăng nguồn thu bền vững. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý thuế; triển khai hệ thống hóa đơn điện tử, tăng cường phòng chống chuyển giá, trốn thuế, buôn lậu và gian lận thương mại. Thực hiện triệt để tiết kiệm, phòng chống lãng phí, tiêu cực trong quản lý, sử dụng ngân sách; cơ cấu lại chi ngân sách theo hướng giảm chi thường xuyên, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động tín dụng, ưu tiên vốn vay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và kinh tế thực. Phát triển hệ thống tài chính-tín dụng xanh, tạo cơ chế ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các lĩnh vực thân thiện môi trường, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Chủ động khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai, gắn với đầu tư công và các dự án phát triển đô thị, tạo nguồn thu ổn định và lâu dài cho ngân sách Nhà nước.

2.7. Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai

Tập trung hoàn thành phương án phân bổ, khoanh vùng đất đai, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất các cấp do sắp xếp đơn vị hành chính đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là công tác thu hút đầu tư; tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản, đất đai, đảm bảo các nguồn tài nguyên được khai thác, sử dụng gắn với bảo vệ môi trường. Tăng cường quản lý, kiểm tra và xử lý nghiêm tình trạng khai thác khoáng sản, nhất là khai thác cát trái phép, nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường và hệ sinh thái.

Hoàn thiện cơ chế bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; bảo đảm đời sống, việc làm của người dân; công khai, minh bạch, tạo đồng thuận để đẩy nhanh giải phóng mặt bằng. Tập trung nguồn lực công tạo quỹ đất sạch kêu gọi đầu tư; cải cách mạnh mẽ công tác xác định giá đất và xây dựng bảng giá đất theo quy định của Luật Đất đai theo hướng tạo thuận lợi thu hút đầu tư; hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai. Tăng cường khai thác nước mặt thay thế việc khai thác nước dưới đất; có giải pháp xử lý hiệu quả xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh và tình trạng thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô tại các khu vực vùng hạ, nâng cao tỷ lệ % hộ sử dụng nước sạch theo tiêu chí của ngành y tế, đảm bảo cơ bản nhu cầu nước sạch vùng biên giới.

Nâng cao hiệu quả hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn và nước thải; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường; tiếp nhận dự án theo hướng xanh, bền vững, thân thiện với môi trường, hạn chế phát thải khí nhà kính. Phát triển mạnh ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, thúc đẩy xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường. Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, bảo đảm tính răn đe và tạo chuyển biến thực chất trong công tác bảo vệ môi trường.

3. Phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; phát triển văn hóa, con người

Giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị bản sắc văn hóa đặc trưng của tỉnh. Bảo tồn, tôn tạo và khai thác hiệu quả các di tích lịch sử-văn hóa, gắn với phát triển du lịch bền vững. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong cộng đồng, gìn giữ đạo đức, lối sống văn hóa trong gia đình, học đường, công sở và xã hội; lan tỏa văn hóa công vụ chuẩn mực, chuyên nghiệp. Chăm lo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phát triển phong trào văn hóa-văn nghệ quần chúng sâu rộng, đặc biệt ở nông thôn, vùng sâu, vùng biên giới và các khu vực tập trung đông công nhân, người lao động. Tăng cường kết nối để phát triển công nghiệp du lịch, từng bước hình thành chuỗi giá trị văn hóa-du lịch đặc sắc; đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động đa dạng nguồn lực nhằm xây dựng ngành du lịch bền vững, hiện đại và giàu bản sắc. Phát triển Núi Bà Tây Ninh thành trung tâm du lịch tâm linh-sinh thái đặc sắc của khu vực phía nam, gắn với bảo tồn văn hóa, cảnh quan thiên nhiên và xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia. Đẩy mạnh phong trào thể thao quần chúng và phát triển thể thao thành tích cao ở những môn có thế mạnh. Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa-thể thao các cấp; huy động đa dạng nguồn lực đầu tư xây dựng Khu liên hợp văn hóa-thể thao tỉnh, từng bước đạt tiêu chuẩn cấp quốc gia, phục vụ nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hóa, thể thao của người dân. Chú trọng đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ có năng lực trong lãnh đạo, quản lý về văn hóa. Nâng cao chất lượng công tác dân số đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội bền vững.

Đa dạng nội dung, phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí, truyền thông theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, bảo đảm đúng tôn chỉ, mục đích, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao hiệu quả định hướng dư luận, lan tỏa thông tin tích cực, góp phần xây dựng niềm tin, tạo đồng thuận xã hội và khơi dậy khát vọng xây dựng tỉnh Tây Ninh phát triển nhanh, bền vững. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại gắn với ngoại giao kinh tế; chủ động quảng bá hình ảnh, tiềm năng, thế mạnh và môi trường đầu tư của tỉnh ra bên ngoài. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong kết nối, giới thiệu tỉnh Tây Ninh là điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn đối với nhà đầu tư, du khách và người dân.

Triển khai, cụ thể hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, tập trung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý vững mạnh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Có giải pháp, cơ chế đột phá thu hút các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp có uy tín ở trong và ngoài nước về tỉnh thành lập trường hoặc thành lập phân hiệu/cơ sở đào tạo. Phát triển hệ thống, mạng lưới trường lớp theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa và hiện đại hóa. Khuyến khích xã hội hóa các cơ sở giáo dục; nhất là hệ thống giáo dục mầm non, phổ thông tư thục ở địa bàn các khu, cụm công nghiệp và khu đô thị mới. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể chất và phẩm chất người học, chuẩn hóa chất lượng đầu ra. Nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên; từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục-đào tạo gắn với định hướng, phân luồng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh; nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp gắn với giải quyết việc làm. Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới. Xây dựng nền tảng giáo dục thông minh, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, công nghệ số; có cơ chế phát hiện, khuyến khích phát triển nhân tài. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập suốt đời, phát triển các mô hình phương thức, phong trào học tập theo hướng đa dạng hóa, phù hợp với các đối tượng, từng vùng trong tỉnh. Tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ; phát huy vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong phòng ngừa bạo lực học đường, định hướng nhận thức, hành vi chuẩn mực và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh. Thiết lập mô hình “Nhà nước-viện, trường-doanh nghiệp” nhằm đồng thiết kế chương trình đào tạo, chuyển giao tri thức và công nghệ, đồng thời tạo môi trường thực tập, việc làm gắn sát nhu cầu thực tiễn, qua đó phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao, logistics và du lịch

Phát triển hệ thống y tế đồng bộ, công bằng và bền vững, chú trọng củng cố, nâng cao chất lượng y tế cơ sở, nhất là tuyến xã, vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa; hoàn thiện mạng lưới bệnh viện, trung tâm y tế để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của Nhân dân. Phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao thông qua việc thực hiện cơ chế, chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ bác sĩ, dược sĩ và nhân lực y tế giỏi chuyên môn, giàu y đức; tập trung đào tạo chuyên khoa sâu, chuẩn hóa trình độ, gắn với nâng cao phẩm chất nghề nghiệp. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế bằng cách ưu tiên nguồn lực để nâng cấp bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh và trung tâm y tế khu vực; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích phát triển cơ sở y tế tư nhân chất lượng cao. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế thông qua việc triển khai bệnh án điện tử, hồ sơ sức khỏe điện tử, mở rộng dịch vụ y tế thông minh, kết nối dữ liệu y tế với hệ thống quốc gia, từng bước xây dựng nền y tế số toàn diện. Song song đó, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế bằng cách tăng cường liên kết chuyên môn, phát triển mô hình khám chữa bệnh từ xa, giảm tải bệnh viện tuyến trên; đồng thời đổi mới phong cách, thái độ phục vụ để nâng cao sự hài lòng của người bệnh. Đảm bảo an sinh y tế và công bằng trong chăm sóc sức khỏe thông qua việc đồng bộ các giải pháp nhằm nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 97%, chú trọng công tác dân số, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi và các đối tượng yếu thế. Chủ động phòng, chống dịch bệnh bằng cách xây dựng hệ thống y tế dự phòng đủ năng lực phát hiện sớm, ứng phó nhanh với dịch bệnh, biến đổi khí hậu và các vấn đề về an toàn thực phẩm; đồng thời kết hợp hài hòa y học hiện đại với y học cổ truyền, phát huy vai trò phòng bệnh, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Thực hiện tốt công tác “đền ơn, đáp nghĩa”, chăm lo người có công với cách mạng bằng các chương trình hỗ trợ thiết thực, hiệu quả. Đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực để chăm sóc tốt các đối tượng bảo trợ xã hội; tiếp tục rà soát thực hiện chính sách xóa nhà tạm, nhà dột nát, nhà tình nghĩa và các chế độ chính sách cho các gia đình chính sách. Thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đô thị và nông thôn; tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu của người dân. Thực hiện hiệu quả chương trình giảm nghèo đa chiều, bao trùm và bền vững; hạn chế tái nghèo, phát sinh hộ nghèo mới; hỗ trợ người nghèo vượt lên mức sống tối thiểu và tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống; có chính sách cho các hộ nghèo mà không có khả năng thoát nghèo được hưởng chính sách bảo trợ xã hội. Thực hiện tốt công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ; đảm bảo các quyền trẻ em và tạo môi trường sống an toàn, lành mạnh để trẻ em phát triển toàn diện. Nâng cao hiệu quả phòng, chống tệ nạn xã hội; đầu tư, nâng cấp cơ sở trợ giúp xã hội; nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc, bảo vệ người yếu thế.

4. Tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nội chính và đối ngoại.

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Củng cố, tăng cường xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” vững chắc. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng-an ninh đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới. Quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống; đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ, nghệ thuật quân sự-an ninh trong huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, an ninh văn hóa, tư tưởng, bí mật Nhà nước, tăng cường bảo vệ các hệ thống thông tin quan trọng. Phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự. Tăng cường bảo đảm an ninh mạng trên địa bàn tỉnh, gắn với xây dựng hạ tầng giám sát, đào tạo nhân lực chuyên trách và nâng cao nhận thức cộng đồng, phục vụ hiệu quả chuyển đổi số địa phương. Đẩy mạnh xây dựng Phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, Phong trào "Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia” phát triển sâu rộng, đi vào thực chất, hiệu quả. Quan tâm xây dựng, củng cố lực lượng công an chính quy và lực lượng cơ sở thật sự vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới.

Thực hiện tốt công tác tiếp, đối thoại với công dân và doanh nghiệp; quan tâm giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, khiếu kiện đông người, đình công, lãn công ngay tại cơ sở, không để diễn biến phức tạp trở thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Nâng cao hiệu quả công tác cải cách tư pháp, hoạt động bổ trợ tư pháp, công tác thanh tra, kiểm tra; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; tăng cường các biện pháp xây dựng, củng cố pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, không để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm.

Công tác nội chính phải hướng đến mục tiêu giữ vững ổn định để phát triển đất nước; phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước hiện nay và trong giai đoạn tới; công tác nội chính phải bám sát và phục vụ mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực cầm quyền, năng lực lãnh đạo của Đảng”.

Đa dạng hóa, đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, ngoại giao văn hóa và hợp tác quốc tế; triển khai hiệu quả Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” và Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 18/2/2022 của Ban Bí thư về công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030. Kết hợp và phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa quan hệ hợp tác song phương và đa phương; triển khai toàn diện, đồng bộ đường lối đối ngoại trên các lĩnh vực. Tiếp tục tăng cường mối quan hệ hợp tác phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, xây dựng biên giới hoà bình, ổn định bền vững với các tỉnh giáp biên phía Campuchia; nghiên cứu, đề xuất chủ trương xây dựng tuyến kênh vành đai biên giới, đầu tư xây dựng khép kín toàn tuyến và nâng cấp, mở rộng đường tuần tra biên giới lên thành đường vành đai biên giới gắn với thế trận quân sự, đảm bảo nhiệm vụ quốc phòng-an ninh kết hợp phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh và góp phần thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự; đẩy mạnh hợp tác, thực hiện tốt công tác phân giới, cắm mốc biên giới và tìm kiếm, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên đất nước Campuchia; chủ động đề xuất giải pháp, phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng phía Campuchia xử lý tốt các vấn đề an ninh phi truyền thống, bảo vệ môi trường khu vực giáp biên.­

5. Nâng cao hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị; củng cố niềm tin của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội

Tập trung đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, sáng tạo, lấy hiệu quả công việc, mức độ hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và nền tảng mạng xã hội trong công tác tuyên truyền, nắm bắt dư luận, tiếp nhận và phản ánh kiến nghị của nhân dân; xây dựng nền tảng số cộng đồng kết nối chính quyền-người dân-đoàn thể trong quản lý địa bàn. Tăng cường phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; củng cố niềm tin và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Triển khai tốt Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; nâng cao chất lượng tiếp dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo; kịp thời xử lý các vấn đề bức xúc, không để phát sinh điểm nóng, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo cho đội ngũ cán bộ, công chức; xây dựng đội ngũ cán bộ gần dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Nâng cao hiệu quả công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; vận động đồng bào có đạo sống “tốt đời, đẹp đạo”, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội tỉnh tập trung củng cố tổ chức, bộ máy, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng tinh gọn, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm phối hợp hiệu quả, tránh chồng chéo, hướng mạnh về cơ sở; kịp thời tuyên truyền, định hướng thông tin, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của đoàn viên, hội viên và nhân dân, giữ vững niềm tin và tạo sự đồng thuận xã hội. Phát huy tốt vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; tập trung vận động đoàn viên, hội viên đăng ký thực hiện các công trình, phần việc để thực hiện có hiệu quả các chỉ tiêu, nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, trong đó tham gia tích cực công tác đền ơn đáp nghĩa, hoạt động an sinh xã hội, bảo đảm không bỏ sót đối tượng, nhất là những người yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội; kịp thời đề xuất cấp ủy, lãnh đạo giải quyết những kiến nghị hợp pháp, chính đáng và những vấn đề phát sinh ở cơ sở. Thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng các mô hình “Dân vận khéo”; tập trung thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền; vận động, phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, góp phần lan tỏa phương châm hành động: “Đảng nói, dân tin; Mặt trận, đoàn thể vận động dân theo; chính quyền làm, dân ủng hộ”; thể hiện rõ vai trò là trung tâm đoàn kết, là cầu nối tin cậy giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các hội quần chúng gắn với bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên; tập hợp, thu hút hội viên tích cực tham gia công tác xã hội, đóng góp vào các chương trình, đề án, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Thực hiện tốt vai trò tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời tăng cường giám sát, phản biện xã hội đối với việc thực hiện các chính sách này, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

6. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động; triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình công tác toàn khóa; nâng cao chất lượng công tác lập pháp, công tác giám sát, tham gia các kỳ họp, phiên chất vấn, tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp Quốc hội.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân gắn với đẩy mạnh chuyển số; nâng cao năng lực, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của từng đại biểu Hội đồng nhân dân; ban hành nghị quyết sát thực tiễn, khả thi, tạo đột phá phát huy tốt các tiềm năng, thế mạnh của địa phương; tập trung giám sát các lĩnh trọng yếu, nổi cộm, cử tri quan tâm. Phối hợp tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.

Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo mô hình mới. Đổi mới tổ chức bộ máy tinh gọn gắn với đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi tối đa cho nhân dân. Rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định phân cấp quản lý đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất, đồng thời phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp, các ngành. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đáp ứng yêu cầu xây dựng và vận hành hiệu quả mô hình chính quyền 2 cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, năng lực sáng tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, trách nhiệm giải trình, phẩm chất đạo đức tốt và bản lĩnh chính trị vững vàng. Tăng cường cán bộ, công chức, viên chức từ cấp tỉnh về cơ sở, ưu tiên cho xã, phường còn thiếu biên chế; đồng thời rà soát, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ theo vị trí việc làm, năng lực, sở trường để nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; xây dựng cơ chế khuyến khích, vinh danh những cá nhân có sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, không để xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân.

* * *

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 với khẩu hiệu hành động “Đoàn kết-Dân chủ-Kỷ cương-Đột phá-Phát triển” kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Tây Ninh đoàn kết, nỗ lực, đổi mới, phát huy trí tuệ, hoàn thành tất cả các mục tiêu đề ra; đưa Tây Ninh tham gia tích cực vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

(1) Nghị quyết số 51-NQ/TU ngày 4/02/2023 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Long An đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

(2) Qua 5 năm thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, toàn tỉnh có 5 tập thể, 13 cá nhân nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; có 8 tập thể, 14 cá nhân nhận Bằng khen của Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương); có 187 tập thể và 387 cá nhân nhận Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.

(3) Trong nhiệm kỳ đã kết nạp 14.204/11.100 đảng viên mới, chiếm tỷ lệ 128%.

(4) Đề án số 08-ĐA/TU, ngày 27/3/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tập hợp, đoàn kết công nhân trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020-2025; Quyết định số 1116-QĐ/TU, ngày 29/9/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; Quy chế số 09-QC/TU, ngày 28/01/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác dân vận của hệ thống chính trị tỉnh Long An; Chỉ thị số 25-CT/TU, ngày 25/02/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới;…

(5) Tiếp dân 101.572 cuộc, đối thoại 13.473 cuộc; tỷ lệ giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền cấp xã mỗi năm đạt 96,12%.

(6) Tổ chức 8.687 cuộc giám sát, 595 nội dung phản biện xã hội, đóng góp 7.290 ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị.

(7) Thực hiện an sinh xã hội, xây dựng nhà đại đoàn kết,… tổng trị giá trên 370 tỷ đồng; tổ chức về nguồn, thăm, tặng quà nhân dịp lễ trọng của các tôn giáo, dân tộc với trên 271 đoàn, tặng 3.233 phần quà, trị giá trên 03 tỷ đồng.

Duy trì thực hiện các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “Xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau, “Xoá nhà tạm, nhà dột nát”. Phát huy hiệu quả các mô hình: “Khu dân cư không có tội phạm và tệ nạn xã hội”, “Tự phòng, tự quản, tự bảo vệ”, “Đồng bào dân tộc, tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu”,…

(8) Trong giai đoạn 2020-2025, Mặt trận Tổ quốc các cấp tổ chức 3.362 cuộc giám sát, tiếp thu 13.687/18.491 ý kiến của Nhân dân (đạt 74,02%); thực hiện phản biện 962 dự thảo văn bản với tỷ lệ tiếp thu đạt 86,03%.

(9) Mô hình sáng tạo, thiết thực được Trung ương khen thưởng, biểu dương như mô hình “Tuyến đường thanh niên kiểu mẫu”, “Mô hình Nhà của Pin”, “Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp”, mô hình được tỉnh biểu dương như mô hình “Dân vận khéo”.

MỤC LỤC

(10) Tỉnh Long An: Tăng trưởng khu vực nông-lâm-thủy sản, công nghiệp-xây dựng, thương mại-dịch vụ, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giai đoạn 2021-2025 lần lượt ước đạt 3,70%/năm, 8,47%/năm, 5,33%/năm, 3,25%/năm.

Cụ thể: Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2021 tăng 1,29% (Trong đó: KVI, II, III, Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm lần lượt là: 3,8%; 1,91%; -0,9%; -0,71%); Năm 2022 tăng 9% (Trong đó: KVI, II, III, Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm lần lượt là: 2,14%; 11,51%; 9,99%; 4,11%). Năm 2023 tăng 5,6% (Trong đó: KVI, II, III, Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm lần lượt là: 4,96%; 7,05%; 4,39%; 0,68%). Năm 2024 tăng 8,3% (Trong đó: KVI, II, III, Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm lần lượt là: 3,60%; 10,95%; 6,44%; 6,35%). Ước năm 2025 tăng 8,74% (Trong đó: KVI, II, III, Thuế sản phẩm lần lượt là: 4,02%; 11,24%; 7,05%; 6,01%).

Giai đoạn 2016-2020 tăng 8,76% (Trong đó: KVI, II, III, Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm lần lượt là: 2,32%; 13,37%; 6,33%; 8,61%).

Tỉnh Tây Ninh: Tây Ninh: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) năm 2021 tăng 0,74%; năm 2022 tăng 10,38%; năm 2023 tăng 5,62%; năm 2024 tăng 8,45%; năm 2025 ước tăng 10,08%.

Cụ thể: Tăng trưởng khu vực nông-lâm-thủy sản, công nghiệp-xây dựng, thương mại-dịch vụ, thuế sản phẩm từ trợ cấp sản phẩm giai đoạn 2021-2025 lần lượt ước đạt 3,85/năm, 9,76%/năm , 6,35%/năm, 4,37%/năm.

(11) Tỉnh Long An: Quy mô kinh tế năm 2020 đạt 130.859 tỷ đồng; năm 2021: 137.806 tỷ đồng; năm 2022: 156.608 tỷ đồng; năm 2023: 168.433 tỷ đồng; năm 2024: 188.588 tỷ đồng; năm 2025 ước đạt: 209.910 tỷ đồng.

Tỉnh Tây Ninh: Quy mô kinh tế năm 2020 đạt 87.218 tỷ đồng; năm 2021: 90.515 tỷ đồng; năm 2022: 103.240 tỷ đồng; năm 2023: 110.907 tỷ đồng; năm 2024: 123.878 tỷ đồng; năm 2025 ước đạt 142.445 tỷ đồng.

(12) Tỉnh Long An: GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 76,36 triệu đồng; năm 2021: 79,85 triệu đồng; năm 2022: 90,3 triệu đồng; năm 2023: 96,61 triệu đồng; năm 2024: 107,38 triệu đồng; năm 2025: 118,6 triệu đồng.

Cơ cấu kinh tế năm 2020 Khu vực I, II, III và thuế trợ cấp sản phẩm lần lượt là: 15,89%; 50,12%; 27,49%; 6,5%. Ước năm 2025: 15,59%; 52,66%; 26,17%; 5,58%.

Tỉnh Tây Ninh: GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 74 triệu đồng; năm 2021: 76,6 triệu đồng; năm 2022: 86,8 triệu đồng; năm 2023: 92,8 triệu đồng; năm 2024: 103 triệu đồng; năm 2025: 117,9 triệu đồng.

Cơ cấu kinh tế khu vực I, II, III và thuế sản phẩm năm 2025 lần lượt là: 18,4% - 47,5% - 29,9% - 4,2% (năm 2020 lần lượt là 21,6% - 43,0% - 30,4% - 5,0%)

(13) Tỉnh Long An: Giai đoạn 2021-2025, ước tăng trưởng khu vực nông-lâm-thủy sản tăng 3,7% (kế hoạch 2,0%). Tỉnh Tây Ninh: ước tăng trưởng khu vực nông-lâm-thủy sản tăng 3,58%.

(14) Tỉnh Long An: Ước giai đoạn 2021-2025, có khoảng 9.300 ha đất lúa chuyển sang trồng cây lâu năm (mít, chanh, sầu riêng, dứa, hoa mai), tăng 5.000 ha so với giai đoạn 2016-2020. Ngoài ra, còn chuyển đổi khoảng 150 ha đất trồng lúa sang trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản (các huyện vùng Đồng Tháp Mười). Lợi nhuận cây chanh giai đoạn kinh doanh 60 - 100 triệu đồng/ha; sầu riêng lợi nhuận 200-550 triệu đồng/ha.

Tỉnh Tây Ninh: Chuyển đổi 9.000 ha cây trồng hiệu quả kinh tế thấp (lúa, cao su, mía, mì) sang trồng rau các loại, cây ăn trái, đặc biệt là các cây ăn trái đặc thù của tỉnh như sầu riêng, chuối, mãng cầu, …mang lại giá trị tăng thêm từ 3-6 lần so với cây truyền thống.

(15) Tỉnh Long An: Ước sản lượng lúa bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 3,0 triệu tấn/chỉ tiêu 2,5-2,6 triệu tấn/năm (tăng 237.000 tấn so với giai đoạn 2016-2020. Trong đó lúa chất lượng cao đến năm 2025 ước đạt 75%/chỉ tiêu 70-75% (sản lượng lúa chất lượng cao giai đoạn 2016-2020 đạt 51,8%).

Tỉnh Tây Ninh: Khoai mì: 2 triệu tấn (tăng 150.000 tấn), mía: 570.000 tấn (tăng 47.000 tấn), cao su: 190.000 tấn (tăng 10.000 tấn), mãng cầu: 83.000 tấn (tăng 15.400 tấn), sầu riêng: 36.700 tấn (tăng 17.000 tấn), chuối: 71.000 tấn (tăng 11.300 tấn).

(16) Tỉnh Long An: Hình thành vùng lúa chất lượng cao, nuôi thủy sản nước ngọt ở vùng Đồng Tháp Mười; vùng rau Cần Đước-Cần Giuộc; vùng chanh Bến Lức-Đức Huệ-Thạnh Hóa-Thủ Thừa-Đức Hòa; vùng thanh long Châu Thành-Tân Trụ và thành phố Tân An; vùng chăn nuôi gia cầm Thạnh Hóa-Bến Lức-Cần Đước-Đức Hòa-Cần Giuộc-Tân Trụ; vùng chăn nuôi heo Tân Trụ-Đức Hòa-Thạnh Hóa-Tân Thạnh-Đức Huệ; vùng chăn nuôi bò sữa Đức Hòa-Tân An; nuôi thủy sản nước lợ vùng hạ…

Về phía tỉnh Tây Ninh hình thành vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tập trung tại huyện Tân Châu, vùng mãng cầu: Thạnh Tân, vùng mía Công ty Thành Thành Công, vùng sầu riêng Bầu Đồn, vùng chăn nuôi gà QL (được công nhận vùng sản xuất nông nghiệp UDCNC).

(17) Ngoài ra, tỉnh Tây Ninh còn triển khai các mô hình ứng dụng công nghệ cao: 150 ha sản xuất rau thực phẩm, dưa lưới, phong lan trong nhà màng, nhà lưới; ứng dụng hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm (chủ yếu tưới phun, tưới bét, tưới nhỏ giọt) trên 120.000 ha đất sản xuất (đạt tỷ lệ tưới tiên tiến, tiết kiệm 32%), Mô hình chăn nuôi tuần hoàn cũng từng bước phát triển với trang trại bò sữa Vinamilk tổng đàn 8.000 con bò sữa,…

(18)Tỉnh Tây Ninh: Ủy ban nhân dân tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 81 dự án nông nghiệp với vốn đầu tư là 7.626 tỷ đồng. Tỷ lệ chăn nuôi trang trại chiếm 81,5%. Hình thành 14 chuỗi liên kết sản xuất-tiêu thụ trên các sản phẩm nông sản thế mạnh, nhằm giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân, doanh nghiệp và phát triển bền vững.

(19) Tỷ lệ che phủ rừng tỉnh Long An đạt 3,89%; tỉnh Tây Ninh đạt 16,4%.

(20)Tỉnh Long An: Giai đoạn 2021-2025, tổng kế hoạch vốn đầu tư trên 3.204 tỷ đồng đã đầu tư tương đối hoàn chỉnh hệ thống kênh các cấp, cùng hệ thống đê bao, cống, trạm bơm điện lớn, nhỏ đã khai thác, vận hành phục vụ có hiệu quả trong sản xuất.

Tỉnh Tây Ninh: Tổng kế hoạch vốn đầu tư công 1.395 tỷ đồng, thực hiện 65 dự án đầu tư. Hoàn thành, đưa vào sử dụng công trình Tưới tiêu khu vực phía Tây sông Vàm Cỏ Đông, mở rộng vùng tưới cho hơn 17.000 ha đất nông nghiệp, góp phần hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng.

(21)Tỉnh Long An: Ước đến ngày 30/6/2025, có 142/160 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 88,75% tổng số xã; có 52 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, chiếm 36,62% tổng số xã đạt chuẩn NTM/KH 40%; có 7/15 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, đạt 70% kế hoạch; 02 huyện nông thôn mới nâng cao, đạt 100% kế hoạch. Như vậy ước đến cuối năm 2025, chỉ tiêu xã nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu, huyện đạt chuẩn nông thôn mới/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới của tỉnh Long An không đạt kế hoạch đề ra (trừ chỉ tiêu huyện nông thôn mới nâng cao).

Tỉnh Tây Ninh: Đến ngày 30/6/2025, toàn tỉnh có 71/71 xã đạt chuẩn nông thôn mới (trong đó có 20 xã biên giới); 25/71 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao (trong đó có 5 xã biên giới); 4/71 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; có 04 huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

(22) Tỉnh Long An: Kết quả năm 2024, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch theo quy chuẩn đạt 82,68%. Trong đó: Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng QCĐP 01:2022/LA từ CTCN tập trung (nước máy) đạt 73,30%; Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước nhỏ lẻ (quy mô hộ gia đình) đạt 9,38%. Ước đến hết năm 2025, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt 82,88%; tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99,88%.

Tây Ninh: Đến năm 2025, tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước sạch theo quy chuẩn đạt 72%, tăng 16,1% so với năm 2020; tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%, tăng 1% so với năm 2020).

(23) Tỉnh Long An: Ước chỉ số sản xuất công nghiệp giai đoạn 2021-2025 tăng 7,05%/năm: Năm 2021, giảm 4,89%; năm 2022, tăng 10,18%, năm 2023 tăng 7,15%; Năm 2024 tăng 11,28% và dự kiến năm 2025 tăng 12,5%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp giai đoạn 2016-2020 tăng trưởng bình quân 13,39%/năm.

Tỉnh Tây Ninh: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng bình quân 11,13%/năm giai đoạn 2021-2025.

(24) Tỉnh Long An: Quy mô công nghiệp năm 2020: 60,67 nghìn tỷ đồng; năm 2021: 64,48 nghìn tỷ đồng; năm 2022: 76,04 nghìn tỷ đồng; năm 2023: 80,82 nghìn tỷ đồng; năm 2024: 90,89 nghìn tỷ đồng; năm 2025: 102,4 nghìn tỷ đồng.

Tỉnh Tây Ninh: Quy mô công nghiệp năm 2020: 32,7 nghìn tỷ đồng; năm 2021: 34,4 nghìn tỷ đồng; năm 2022: 41,6 nghìn tỷ đồng; năm 2023: 44,4 nghìn tỷ đồng; năm 2024: 50,3 nghìn tỷ đồng; năm 2025: 61,2 nghìn tỷ đồng.

(25) Tỉnh Long An: Tỷ lệ lấp đầy đạt 71,91%. Tây Ninh: Tỷ lệ lấp đầy từ 59,42% năm 2020 lên đạt 71,73% năm 2025.

(26) Tỉnh Long An: Năm 2020 xếp thứ 3; năm 2021 xếp thứ 16, năm 2022 xếp thứ 10, năm 2023 xếp thứ 2/63 tỉnh, thành trong cả nước, năm 2024 đứng thứ 3 cả nước.

Tỉnh Tây Ninh: Chỉ số PCI năm 2021: xếp thứ 37, năm 2022 xếp thứ 55, năm 2023 xếp thứ 20, năm 2024 xếp thứ 20.

(27)Tỉnh Long An: Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 20.165 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, tổng vốn 400.967 tỷ đồng; 2.287 dự án đầu tư trong nước, vốn đăng ký 510.072,8 tỷ đồng; lũy kế thu hút 1.409 dự án đầu tư nước ngoài, vốn 12.783,6 triệu USD (trong nhiệm kỳ thu hút khoảng 300 dự án với vốn đầu tư trên 4,6 tỷ USD); trong đó có 635 dự án đi vào hoạt động, tổng vốn đầu tư 4.213 triệu USD.

Trong đó: đã thu hút nhiều nhà đầu tư lớn có năng lực, kinh nghiệm trong lĩnh vực chế biến, chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp sạch vào đầu tư như Vinacapital GS Energy, Coca-Cola, Pepsico, Thái Tuấn,...

Đến hết năm 2020 có 12.422 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký 328.143 tỷ đồng; có 2.005 dự án đầu tư trong nước được cấp phép với số vốn đăng ký 232.899 tỷ đồng; có 1.079 dự án FDI, vốn đăng ký là 6.608,1 triệu USD.

Tỉnh Tây Ninh: Trên địa bàn tỉnh có 9.272 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 206.005 tỷ đồng. Thu hút đầu tư trong và ngoài nước đạt khá, tổng vốn thu hút đạt 64.072 tỷ đồng và 3,6 tỷ USD.

(28) Dự án nhà máy điện LNG với vốn đăng ký hơn 3,1 tỷ USD; Dự án Suntory Pepsico Long An với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 185 triệu USD; Dự án Chi nhánh Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nước giải khát Coca-Cola Việt Nam tại Long An với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 136 triệu USD; Nhà máy hoàn thiện sản phẩm Dệt Thái Tuấn với tổng vốn đầu tư đăng ký là 12.800 tỷ đồng;…

Tỉnh Tây Ninh: Dự án Khu đô thị phục vụ khu du lịch quốc gia Núi Bà Đen với vốn đăng ký hơn 6.500 tỷ đồng; dự án Khu công nghiệp thuộc Khu liên hợp công nghiệp-đô thị-dịch vụ Phước Đông -Bời Lời với vốn đăng ký đầu tư hơn 5.900 tỷ đồng; dự án Dây chuyền 2 thuộc Nhà máy sản xuất xi-măng Fico Tây Ninh với vốn đăng ký đầu tư hơn 6.700 tỷ đồng…

(29) Tỉnh Long An: Giai đoạn 2021-2025 tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 268 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 98 nghìn tỷ đồng so với giai đoạn trước; bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2021-2025 vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 53,5 nghìn tỷ đồng. Trong đó, tổng vốn đầu tư xã hội năm 2021 giảm 12,45% so với năm 2020, tuy nhiên năm 2022 tổng vốn đầu tư xã hội tăng 24,88% so với năm 2021. Tỷ trọng vốn đầu tư xã hội trên GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 31,17%.

Tỉnh Tây Ninh: Giai đoạn 2021-2025 tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 206 nghìn tỷ đồng; bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2021-2025 vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 41,2 nghìn tỷ đồng. Tỷ trọng vốn đầu tư xã hội trên GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 36,1%.

(30) Tỉnh Long An: Tỷ lệ giải ngân đầu tư công năm 2021 đạt 95,2% kế hoạch. Năm 2022 đạt 93,9% kế hoach. Năm 2023 đạt 99,32%. Năm 2024 ước đạt trên 95,35% kế hoạch.

Tỉnh Tây Ninh: Tỷ lệ giải ngân đầu tư công năm 2021 đạt 91,93% kế hoạch. Năm 2022 đạt 92,4% kế hoạch. Năm 2023 đạt 93,72%. Năm 2024 đạt 96,4% kế hoạch. Giai đoạn 2016-2020: Tổng vốn triển khai thực hiện 15.586,704 tỷ đồng, giải ngân đạt 97,55% kế hoạch.

(31) Về Chương trình huy động mọi nguồn lực xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ phục vụ phát triển công nghiệp và đô thị vùng kinh tế trọng điểm đề ra 8 dự án: Đến nay, có 2 dự án hoàn thành, đưa vào sử dụng gồm: (1) Dự án Nút giao Đường Hùng Vương-Quốc lộ 62, (2) Dự án Nâng cấp, mở rộng ĐT.824 đoạn từ Tua một đến cầu kênh Ranh; đã khởi công xây dựng là đường Lương Hòa-Bình Chánh; còn lại 5 dự án phụ thuộc vào công tác lập quy hoạch và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư nên tiến độ triển khai chưa đạt yêu cầu.

Về 3 công trình trọng điểm: Hoàn thành đường Vành đai thành phố Tân An; đang triển khai thi công ĐT.830E (đoạn từ nút giao cao tốc đến ĐT.830); chuẩn bị thủ tục triển khai dự án đường dẫn vào cầu và 3 cầu tuyến ĐT.827E.

(32) Hoàn thành và đưa vào sử dụng công trình: Bệnh viện Đa khoa huyện Mộc Hóa; Bệnh viện Đa Khoa khu vực Mộc Hóa; Trường trung học phổ thông An Ninh; mở rộng Trường trung học phổ thông Hậu Nghĩa; Trường trung học phổ thông Hậu Thạnh Đông; Khu lưu niệm Nguyễn Thông; Khu di tích lịch sử Rừng tràm Bà Vụ; Nhà lưu niệm giáo sư Trần Văn Giàu; đầu tư tăng cường năng lực đo lường, thực nghiệm chất lượng sản phẩm hàng hóa phục vụ quản lý nhà nước tỉnh Long An, giai đoạn 2013-2016; Trung tâm văn hóa thể thao và nhà thiếu nhi huyện Thủ Thừa; Nhà trưng bày và văn bia Long An ‘‘Trung dũng kiên cường-toàn dân đánh giặc"...

(33) Tỉnh Long An: Đã thu hút được các nhà đầu tư triển khai các dự án đô thị lớn, hạ tầng đồng bộ, hiện đại như khu đô thị Phước Vĩnh Tây, khu đô thị mới Hậu Nghĩa, khu đô thị mới Tân Mỹ, khu đô thị Phường 4, 6 thành phố Tân An,…

Tỉnh Tây Ninh: Đưa vào vận hành, khai thác khu đô thị mới tại phường Ninh Thạnh, khu đô thị phụ cận phục vụ Khu du lịch quốc gia núi Bà Đen....

(34) Tỉnh Long An: Hoàn thành đưa vào sử dụng 7 dự án nhà ở xã hội dành cho công nhân, người thu nhập thấp với tổng quy mô đất khoảng 5,41 ha, với 1.884 căn, đáp ứng cho khoảng 8.000 người, đã triển khai chấp thuận chủ trương đầu tư 28 dự án với quy mô 225,34 ha tương ứng với 44.433 căn và dự kiến hoàn thành giai đoạn 2025-2030

Tỉnh Tây Ninh: Phấn đấu hoàn thành khoảng 8.700 căn nhà ở xã hội; trong đó, nhà lưu trú công nhân khu công nghiệp tăng thêm khoảng 5.700 căn.

(35) Tỉnh Long An: Tốc độ tăng trưởng ngành thương mại-dịch vụ năm 2021: -0,9%; năm 2022: 9,99%; năm 2023: 4,39%; năm 2024: 6,44%; năm 2025: 7,05%.

Tỉnh Tây Ninh: Tốc độ tăng trưởng ngành thương mại - dịch vụ năm 2021: -1,5%; năm 2022: 10,95%; năm 2023: 5,67%; năm 2024: 7,36%; năm 2025: 9,74%.

(36) Tỉnh Long An: Giai đoạn 2021-2025 tăng trưởng bình quân 14,72%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ qua các năm 2021, 2022, 2023, 2024 và 2025 lần lượt là: 68.857 tỷ đồng; 78.854 tỷ đồng; 86.874 tỷ đồng; 103.428 tỷ đồng; 119.080 tỷ đồng.

Tỉnh Tây Ninh: Giai đoạn 2021-2025 tăng trưởng bình quân đạt 13,19%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ qua các năm 2021, 2022, 2023, 2024 và 2025 lần lượt là: 77.921 tỷ đồng; 97.627 tỷ đồng; 108.919 tỷ đồng; 120.344 tỷ đồng; 137.077 tỷ đồng.

(37) Tỉnh Long An: Đến nay có 125 chợ, trong đó có 107 chợ nông thôn, 34.363 doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh thương mại (trong đó 2.229 doanh nghiệp và 32.134 cơ sở) góp phần phát triển lưu thông hàng hóa ổn định (tăng 3.530 doanh nghiệp và cơ sở so với năm 2020); có 7 siêu thị (tăng 4 siêu thị so với cuối năm 2020); 1 Trung tâm thương mại Vincom Plaza; 150 Cửa hàng tiện ích.

Tỉnh Tây Ninh: Đến nay có 109 chợ, trong đó có 81 chợ nông thôn; có 13 siêu thị ; 1 Trung tâm thương mại Vincom Plaza; 146 Cửa hàng tiện ích.

(38) Tỉnh Long An: Đến nay, toàn tỉnh có 319 lượt mã số vùng trồng với tổng diện tích trên 14.400 ha xuất khẩu sang các thị trường: Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, EU, châu Âu, Nga, Anh, Trung Quốc và có 166 mã cơ sở đóng gói đang hoạt động.

Giai đoạn 2021-2025, hoạt động xúc tiến thương mại đã hỗ trợ hơn 2.000 lượt doanh nghiệp tham gia trên 100 sự kiện kết nối giao thương, tư vấn xuất khẩu theo hình thức trực tuyến trong và ngoài nước. Lũy kế đến nay các doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện được 282 hợp đồng cung ứng hàng hóa với doanh nghiệp các tỉnh, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố khác (trong đó Thành phố Hồ Chí Minh là 175 hợp đồng). Chợ đầu mối Bình Điền (khoảng 200 tấn/đêm), Chợ đầu mối Hóc Môn (140-160 tấn/đêm), Chợ đầu mối Dầu Giây; kết nối các nhà hàng, bếp ăn tập thể có đông công nhân...

Tỉnh Tây Ninh: Thiết lập và duy trì mối quan hệ hợp tác với 6 đơn vị hành chính cấp tỉnh của nước ngoài, trên 20 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Hình thành 14 chuỗi liên kết sản xuất-tiêu thụ trên các sản phẩm nông sản thế mạnh, nhằm giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân, doanh nghiệp và phát triển bền vững.

(39)Tỉnh Long An: Năm 2020, số khách tham quan đạt trên 800.000 lượt; doanh thu du lịch đạt 425 tỷ đồng. Năm 2021 (giảm do ảnh hưởng dịch Covid-19), số khách tham quan đạt 345.000 lượt; doanh thu du lịch đạt 183 tỷ đồng. Năm 2022, số khách tham quan đạt 650.000 lượt; doanh thu du lịch đạt 345 tỷ đồng. Năm 2023, số khách tham quan du lịch đạt trên 1 triệu lượt; doanh thu du lịch đạt 560 tỷ đồng. Năm 2024, số khách tham quan đạt trên 2 triệu lượt; doanh thu du lịch đạt trên 1.050 tỷ đồng (do có Tuần văn hóa, thể thao và du lịch). Ước năm 2025 thu hút khoảng 2 triệu du khách, tổng doanh thu du lịch đạt trên 1.000 tỷ đồng.

Tỉnh Tây Ninh: Năm 2020, số khách tham quan đạt trên 2,2 triệu lượt; doanh thu du lịch đạt 736 tỷ đồng. Năm 2021 (giảm do ảnh hưởng dịch Covid-19), số khách tham quan đạt 1,5 triệu lượt; doanh thu du lịch đạt 609 tỷ đồng. Năm 2022, số khách tham quan đạt 4,5 triệu lượt; doanh thu du lịch đạt 1.465 tỷ đồng. Năm 2023, số khách tham quan du lịch đạt 5,1 triệu lượt; doanh thu du lịch đạt 2.010 tỷ đồng. Năm 2024, số khách tham quan đạt 5,6 triệu lượt; doanh thu du lịch đạt trên 2.500 tỷ đồng. Ước năm 2025 thu hút trên 5,7 triệu du khách, tổng doanh thu du lịch đạt trên 2.700 tỷ đồng.

(40) Tỉnh Long An: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2021-2025 ước đạt 61,59 tỷ USD

Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 7,7%, tổng giá trị ước đạt 36,06 tỷ USD: Xuất khẩu năm 2021 đạt 6,15 tỷ USD; năm 2022 đạt 7,04 tỷ USD; năm 2023 đạt 6,87 tỷ USD; năm 2024 ước đạt 7,8 tỷ USD; năm 2025 ước đạt 8,2 tỷ USD.

Kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân 4,6%, tổng giá trị đạt 25,53 tỷ USD: Nhập khẩu năm 2021 đạt 5,02 tỷ USD; năm 2022, đạt 5,18 tỷ USD; năm 2023 đạt 4,33 tỷ USD; năm 2024 ước đạt 5,2 tỷ USD; năm ước 2025 ước đạt 5,8 tỷ USD tăng 7,41%.

- Giai đoạn 2016-2020, xuất khẩu tăng bình quân 12,66%, tổng giá trị đạt 25,44 tỷ USD; nhập khẩu tăng bình quân 8,3%, tổng giá trị đạt 19,41 tỷ USD, xuất siêu 6,03 tỷ USD.

Tỉnh Tây Ninh: Duy trì tăng trưởng xuất khẩu bình quân 10,6%/năm, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 31,7 tỷ USD; mở rộng thị trường, thâm nhập sâu vào các thị trường mới, khó tính, có yêu cầu cao như EU, Mỹ, Halal… .

(41) Tỉnh Long An: Tổng thu ngân sách Nhà nước: Năm 2020 đạt 18.507 tỷ đồng, đạt 110,4% dự toán Trung ương và 109,6% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Năm 2021 đạt 18.693 tỷ đồng, đạt 123,2% dự toán Trung ương và đạt 120% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh. Năm 2022 đạt 21.844 tỷ đồng, đạt 127,2% dự toán Trung ương, đạt 125,9% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh. Năm 2023 đạt 20.258 tỷ đồng, đạt 104,7% dự toán Trung ương, đạt 100,5% dự toán tỉnh. Năm 2024, đạt 26.532 tỷ đồng, đạt 125,6% dự toán Trung ương và 124,6% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh.

Tỉnh Tây Ninh: Tổng thu ngân sách Nhà nước: Năm 2020 đạt 10.124 tỷ đồng; năm 2021 đạt 10.379 tỷ đồng; năm 2022 đạt 12.192 tỷ đồng; năm 2023 đạt 11.503 tỷ đồng; năm 2024 đạt 13.153 tỷ đồng; năm 2025 ước đạt 13.158 tỷ đồng.

(42) Tỉnh Long An: Tổng chi ngân sách địa phương: Năm 2020 đạt 15.735 tỷ đồng, đạt 109,4% so dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Năm 2021 đạt 18.690 tỷ đồng, đạt 135% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Năm 2022 đạt 21.872 tỷ đồng, đạt 141,1% dự toán tỉnh giao. Năm 2023 đạt 22.784 tỷ đồng, đạt 120,9% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Năm 2024, đạt 21.909,5 tỷ đồng, đạt 116,58% dự toán Trung ương và 114,76% dự thảo Hội đồng nhân dân tỉnh.

Giai đoạn 2021-2025, tỷ trọng chi đầu tư phát triển thực hiện của năm 2021 chiếm 47,6% so tổng chi ngân sách địa phương đến năm 2024 ước đạt 59,6% và năm 2025 ước đạt trên 59,6%, đảm bảo đạt chỉ tiêu tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển qua các năm.

Trong Chiến lược Tài chính quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 368/QĐ-TTg, ngày 21/3/2022 thì phấn đấu 2021-2025, tổng chi đầu tư phát triển/tổng chi ngân sách Nhà nước ở mức 28%, giai đoạn 2026-2030.

Tỉnh Tây Ninh: Tổng chi ngân sách địa phương: Năm 2020 đạt 10.588 tỷ đồng, đạt 95,2% so dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Năm 2021 đạt 11.015 tỷ đồng, đạt 95,4% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Năm 2022 đạt 10.382 tỷ đồng, đạt 99,8% dự toán tỉnh giao. Năm 2023 đạt 10.624 tỷ đồng, đạt 95,1% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Năm 2024, đạt 11.833 tỷ đồng, đạt 106,7% dự toán Trung ương và 105,9% dự thảo Hội đồng nhân dân tỉnh. Giai đoạn 2021-2025, tỷ trọng chi đầu tư phát triển thực hiện của năm 2021 chiếm 40,2% so tổng chi ngân sách địa phương đến năm 2024 đạt 38,2% và năm 2025 ước đạt trên 34,8%.

(43) Tỉnh Long An: Quy hoạch tỉnh Long An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 686/QĐ-TTg, ngày 13/6/2023; là tỉnh thứ 10 cả nước và là đầu tiên khu vực phía Nam sớm được phê duyệt quy hoạch. Tây Ninh: Quyết định số 1736/QĐ-TTg, ngày 29/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

(44) Tỉnh Long An: Tổ chức triển khai và quản lý 56 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, 30 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, 10 nhiệm vụ nhân rộng mô hình. Nghiệm thu và bàn giao 18 nhiệm vụ cho các đơn vị đề xuất đặt hàng hoặc có nhu cầu tiếp nhận ứng dụng.

Tỉnh Tây Ninh: Tổ chức triển khai và theo dõi quản lý 37 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (3 cấp quốc gia, 25 cấp tỉnh, 09 cấp cơ sở). 24/37 nhiệm vụ khoa học công nghệ đã được nghiệm thu và đưa vào ứng dụng.

(45) Tỉnh Long An: Trước đó, triển khai Nghị quyết số 164/2014/NQ-HĐND, ngày 10/12/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách hỗ trợ chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ đã triển khai 107 mô hình trên địa bàn tỉnh trên các lĩnh vực. Trong giai đoạn 2021 đến nay, triển khai Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND, ngày 30/3/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách hỗ trợ nhân rộng kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ công nghệ, đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025, tiếp tục hỗ trợ nhân rộng trên 29 mô hình.

Tỉnh Tây Ninh: Hiện tại, tỉnh Tây Ninh chưa ban hành chính sách hỗ trợ chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, phần lớn các kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu đều được tổ chức chuyển giao ứng dụng, phục vụ trực tiếp vào công tác quản lý của các cấp, các ngành, hoạt động sản xuất và kinh doanh của người dân, doanh nghiệp tại địa phương.

(46) Tỉnh Long An: Đã hỗ trợ 05 công ty triển khai thực hiện các đề tài về hoàn thiện công nghệ, sử dụng công nghệ mới để sản xuất và phát triển sản phẩm: Công ty Cổ phần Nghiên cứu bảo tồn và phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười; Công ty Cổ phần Cơ khí chế tạo máy Long An; Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Sản xuất rượu Thanh long; Công ty Cổ phần Cơ khí xây dựng Long An; Công ty Cổ phần Dược liệu Mecola.

Tỉnh Tây Ninh: Đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho 2 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia thực hiện các đề tài, dự án khoa học và công nghệ tại địa phương: Công ty trách nhiệm hữu hạn Nghiên cứu, Ứng dụng Mía đường Thành Thành Công-Doanh nghiệp khoa học và công nghệ (1 dự án nông thôn miền núi cấp quốc gia, 1 dự án sản xuất thử nghiệm cấp tỉnh, 3 đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh); Công ty trách nhiệm hữu hạn hàng tiêu dùng Đại Dương (1 dự án nông thôn miền núi cấp quốc gia).

(47) Tỉnh Long An: Chỉ số đổi mới sáng tạo địa phương (PII) của tỉnh năm 2023 đạt thứ 12 cả nước, thứ 2 vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Đầu tư, đưa vào hoạt động Không gian khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo tỉnh, đặt tại tầng 2 (Trung tâm Ứng dụng, kỹ thuật, thông tin khoa học và công nghệ thuộc Sở Khoa học và Công nghệ) là không gian làm việc chung trong các hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Tổ chức thành công 2 mùa Hội thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo-Kiến tạo tương lai" cấp tỉnh (2023-2024); hơn 100 ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo được phát hiện qua các cuộc thi của Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên. Đẩy mạnh tuyên truyền qua báo, đài, mạng xã hội và xây dựng mô hình truyền thông cộng đồng tại cấp xã, phường. Tham gia tích cực mạng lưới khởi nghiệp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, dự các hội thảo, Techfest và khóa huấn luyện cấp quốc gia. Chủ động hình thành các HUB chuyên đề như Làng sinh viên, Làng Design Thinking tại Long An. Tổ chức trưng bày sản phẩm khởi nghiệp và tạo môi trường thực hành khởi nghiệp sáng tạo cho sinh viên, học sinh tỉnh. Hoạt động đầu tư và gọi vốn còn hạn chế do thiếu nhà đầu tư mạo hiểm và kết nối quốc tế còn yếu. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo bước đầu được hình thành với các cấu phần cơ bản, định hướng tiếp tục phát triển hơn đến 2025 và các năm tiếp theo.

Tỉnh Tây Ninh: Chỉ số đổi mới sáng tạo địa phương (PII) của tỉnh năm 2023 xếp hạng: 38/63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương; năm 2024 xếp hạng: 46/63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (giảm 8 bậc so với năm 2023). Tây Ninh chưa có không gian khởi nghiệp/khu làm việc chung phục vụ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của tỉnh còn yếu, đang trong quá trình hình thành các thành tố cơ bản của hệ sinh thái. Đã tổ chức thành công cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cấp tỉnh năm 2023-2024 (lần thứ 1); đang tổ chức cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cấp tỉnh năm 2024-2025. Tổ chức 5 sự kiện Ngày hội Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cấp tỉnh” với các chuỗi hoạt động, tham luận, tọa đàm. Tổ chức giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm tiêu biểu trong khởi nghiệp/khởi sự kinh doanh; tập huấn về “Khởi nghiệp trong thời đại công nghệ số”; hội thảo “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh” và “Hỗ trợ, kết nối và phát triển các sản phẩm OCOP”; giới thiệu một số kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ, thiết bị cần chuyển giao, ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp; trưng bày hơn 70 gian hàng về các sản phẩm khởi nghiệp, sản phẩm OCOP đặc trưng của địa phương; kết nối cung - cầu công nghệ, máy móc, thiết bị của các công ty, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất trong và ngoài tỉnh nhằm kết nối các ngành chức năng; Thông tin, tuyên truyền và tổ chức đoàn, gian hàng tham gia sự kiện do bộ, ngành, địa phương tổ chức.

(48) Tỉnh Long An: Xây dựng Trung tâm Dữ liệu tỉnh; Trung tâm An toàn thông tin (SOC); Trung tâm Điều hành thông minh (IOC); Kho cơ sở dữ liệu dùng chung; Hệ thống Quản lý văn bản và điều hành; Hệ thống Giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính; 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; App Long An Số, Long An IOC, Tổng đài 1022, Hệ thống hội nghị trực tuyến từ tỉnh đến cơ sở....

Tỉnh Tây Ninh: Xây dựng Trung tâm Dữ liệu tỉnh; Trung tâm An toàn thông tin (SOC); Trung tâm Điều hành thông minh (IOC); Kho cơ sở dữ liệu dùng chung; Hệ thống Quản lý văn bản và điều hành; Hệ thống Giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính; App ứng dụng Tây Ninh Smart; Hệ thống phản ánh kiến nghị; Hệ thống Họp không giấy; Hệ thống Cổng thông tin điện tử; Tổng đài 1022, Hệ thống hội nghị trực tuyến từ tỉnh đến cơ sở...

(49) Tỉnh Long An: Hiện trên địa bàn tỉnh có 38 trạm quan trắc nước thải tự động, liên tục truyền về trạm trung tâm để theo dõi chất lượng nước thải trước khi xả ra nguồn tiếp nhận (trong đó có 22 khu công nghiệp, 3 cụm công nghiệp và 13 doanh nghiệp có nguồn thải lớn) và 11 trạm khí thải tự động, liên tục; lắp đặt, theo dõi việc vận hành 6 trạm quan trắc nước thải, khí thải liên tục, tự động để theo dõi chất lượng môi trường nền.

Triển khai thí điểm phân loại rác tại nguồn khu vực đô thị tại Phường 3, thành phố Tân An và khu vực nông thôn tại xã Thái Trị, thị trấn Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng từ đó triển khai thực hiện trên toàn tỉnh.

Tỉnh Tây Ninh: Hiện trên địa bàn tỉnh có 77 trạm quan trắc nước thải tự động, liên tục truyền về trạm trung tâm để theo dõi chất lượng nước thải trước khi xả ra nguồn tiếp nhận (trong đó có 6 khu công nghiệp, 1 cụm công nghiệp và 70 doanh nghiệp có nguồn thải lớn) và 38 trạm khí thải tự động, liên tục. Các kết quả truyền về cơ bản phản ánh đúng hiện trạng sản xuất và xử lý chất thải của các doanh nghiệp. Lắp đặt, theo dõi việc vận hành 6 trạm quan trắc nước mặt tự động liên tục, 2 trạm quan trắc không khí tự động liên tục để theo dõi chất lượng môi trường nền.

(50) Năm 2020, thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã hỗ trợ cho 153.768 đối tượng với số tiền 169,6 tỷ đồng.

Năm 2021, thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã triển khai hỗ trợ cho 700.643 người thuộc 13/13 nhóm đối tượng với tổng kinh phí 1.159,7 tỷ đồng; trong đó hỗ trợ trực tiếp cho 373.840 người với số tiền 939,7 tỷ đồng. Năm 2022, thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã phê duyệt hỗ trợ cho 4.379 lượt doanh nghiệp với 303.818 lượt lao động, tổng kinh phí là 166,3 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, xác định công tác an sinh xã hội là trọng yếu, tỉnh Long An tích cực vận động xã hội hóa để hỗ trợ cho người dân gặp khó khăn như: giảm tiền nhà trọ, tiền điện, nước, suất ăn không đồng, thực phẩm không đồng… với tổng kinh phí thực hiện trên 190 tỷ đồng, hỗ trợ cho 492.160 người; nguồn ngân sách các cấp đã hỗ trợ cho 290.368 người bị ảnh hưởng Covid-19 với kinh phí 353,5 tỷ đồng.

(51) Tỉnh Long An: Tổng số người tử vong do Covid-19 của tỉnh Long An là 1.030 ca, (trong đó; tỷ lệ có bệnh lý nền là rất cao (82,68%), độ tuổi đa số trên 65 tuổi (43,34%)

Tỉnh Tây Ninh: Tổng số người mắc covid 19 là 162.903 ca, tử vong do Covid-19 là 1.052 ca, chiếm tỷ lệ 0,65% (trong đó đa phần các ca tử vong là người già, có bệnh lý nền..).

(52) Tỉnh Long An: Thông tư số 07/2014/TT-BYT, ngày 25/02/2014 của Bộ Y tế; tỷ lệ bác sĩ/ vạn dân được cải thiện, ước hết năm 2025 đạt 10 bác sĩ/vạn dân, đạt Nghị quyết đề ra.

Tỉnh Tây Ninh: Thông tư số 07/2014/TT-BYT, ngày 25/02/2014 của Bộ Y tế; tỷ lệ bác sĩ/ vạn dân được cải thiện, ước hết năm 2025 đạt 10 bác sĩ/vạn dân, đạt Nghị quyết đề ra.

(53) Tỉnh Long An: Tổng số trẻ sinh là 18.095 trẻ, giảm 17 trẻ so cùng kỳ. Số người đặt dụng cụ tử cung 27.277 người, 258 người sử dụng thuốc cấy, 5.043 người sử dụng thuốc tiêm, 31.011 người uống thuốc viên và 25.547 người sử dụng cao su. Sàng lọc sơ sinh: 5 bệnh, đạt 99,15%; Sàng lọc trước sinh: 4 bệnh, đạt 99,21%. Tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân cho 3.858 cặp nam nữ chuẩn bị kết hôn, đạt 99,18%.

Tỉnh Tây Ninh: Tổng số trẻ sinh là 13.362 trẻ, tăng 300 trẻ so cùng kỳ. Số người đặt dụng cụ tử cung 6.172 người, 81 người sử dụng thuốc cấy, 4.745 người sử dụng thuốc tiêm, 27.917 người uống thuốc viên và 25.344 người sử dụng cao su. Sàng lọc sơ sinh: 5 bệnh, đạt 47,33%; Sàng lọc trước sinh: 4 bệnh, đạt 65,81%. Tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân cho 625 cặp nam nữ chuẩn bị kết hôn, đạt 10,94%.

(54) Tỉnh Long An: Toàn tỉnh hiện có 590 cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông (chia ra: 554 công lập, 36 ngoài công lập). Cụ thể: có 218 cơ sở giáo dục mầm non (190 công lập và 28 ngoài công lập); 177 cơ sở giáo dục tiểu học (176 công lập và 1 ngoài công lập); 149 cơ sở giáo dục trung học cơ sở (148 công lập và 01 ngoài công lập); 46 cơ sở giáo dục cấp trung học phổ thông (40 công lập và 6 ngoài công lập).

So sánh với giai đoạn 2016-2020: Ổn định về quy mô số lượng cơ sở giáo dục. Trong đó, quy mô từng cấp có sự thay đổi do sắp xếp theo hướng tinh gọn, cụ thể: Cấp mầm non: giảm 3 đơn vị ngoài công lập (giảm quy mô số trẻ do ảnh hưởng Covid-19); cấp tiểu học: giảm 2 đơn vị (1 công lập do sáp nhập và 1 ngoài công lập do giảm số học sinh vì ảnh hưởng Covid-19); cấp trung học cơ sở: tăng 3 đơn vị công lập (do sắp xếp sáp nhập tiểu học vào trung học cơ sở); cấp trung học phổ thông: tăng 2 đơn vị công lập và 1 đơn vị ngoài công lập (trường công lập: thành lập mới Trường THPT Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực -Bến Lức phát triển theo định hướng chất lượng cao tại thị xã Kiến Tường và huyện Bến Lức; trường ngoài công lập: Trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông EMASI PLUS).

Triển khai sáp nhập Trường Cao đẳng sư phạm Long An thành Phân hiệu Trường đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

Tỉnh Tây Ninh: Mạng lưới các cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông trên địa bàn tỉnh đã được phân bổ rộng khắp 94/94 xã, phường, thị trấn, đảm bảo tính hợp lý và phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. Thời điểm tháng 5/2025, tỉnh Tây Ninh có 436 cơ sở giáo dục cấp học mầm non, phổ thông (407 cơ sở giáo dục công lập và 29 cơ sở giáo dục ngoài công lập. Cụ thể: Cấp mầm non có 131 trường mầm non, mẫu giáo (106 trường công lập và 25 trường tư thục); 174 cơ sở giáo dục tiểu học (172 công lập, 2 ngoài công lập), 101 cơ sở giáo dục trung học cơ sở công lập và 30 cơ sở giáo dục trung học phổ thông (28 công lập và 02 tư thục)

Xây dựng đề án, tổ chức lại Trường cao đẳng Sư phạm Tây Ninh thành Phân hiệu Trường đại học trên địa bàn tỉnh.

(55) Tỉnh Long An: Ước giai đoạn 2021-2024, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh tuyển sinh đào tạo 93.079 lao động. Kết quả trên đã góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh năm 2021 từ 72,10%; có bằng cấp, chứng chỉ đạt 31,02% tăng lên 75,56% và 35% vào năm 2024. Hiện toàn tỉnh có 13 cơ sở đang hoạt động (04 trường cao đẳng, 4 trường trung cấp, 03 trung tâm giáo dục nghề nghiệp và 2 đơn vị tham gia giáo dục nghề nghiệp). Thành lập Trường cao đẳng Y tế Long An trên cơ sở Trường trung cấp Y tế Long An; sáp nhập Trường trung cấp Kinh tế-Kỹ thuật vào Trường cao đẳng Long An.

Tỉnh Tây Ninh: Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) của tỉnh hiện có tổng cộng 17 cơ sở. Trong đó 11 cơ sở công lập (gồm: Trường Cao đẳng nghề Tây Ninh, Trường Trung cấp Kinh tế -Kỹ thuật Tây Ninh, Trường Trung cấp Y tế Tây Ninh, Trung tâm dịch vụ việc làm-giáo dục nghề nghiệp tỉnh Tây Ninh, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục từ xa Cụm Thành phố Tây Ninh và 6 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục từ xa cấp huyện), chiếm 64,71% tổng số cơ sở, và 6 cơ sở ngoài công lập (gồm có: Trường Trung cấp Tân Bách Khoa, Trường Trung cấp Á Châu, Trung tâm dạy nghề lái xe Thành Đạt, Trung tâm đào tạo lái xe ô tô Tây Ninh, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp 3T-Tây Ninh, Công ty cổ phần đầu tư phát triển và giáo dục TPA (đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp) chiếm 35,29%. Sự phân bố các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ yếu tập trung ở thành phố Tây Ninh, với 6/17 cơ sở, chiếm 35,29% tổng số cơ sở trong tỉnh. Các huyện, thị xã còn lại mỗi địa phương có từ 1 đến 2 cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Trong năm 2024 đã sáp nhập Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục từ xa thành phố Tây Ninh, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục từ xa Hòa Thành và Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục từ xa Châu Thành trở thành Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục từ xa Cụm thành phố Tây Ninh. Hiện tại Sở Giáo dục và Đào tạo đang trình xin chủ trương sáp nhập Trường Cao đẳng nghề Tây Ninh và Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Ninh

(56) Tỉnh Long An: Đến cuối năm 2023, toàn tỉnh đã có 138/161 xã đạt tiêu chí văn hóa, nông thôn mới, đạt 85,7%, tăng 19,9% với năm 2020. Toàn tỉnh có 400.975/411.360 hộ được công nhận gia đình văn hóa, đạt 97.48%, tăng 0,08% với năm 2020; 995/996 ấp, khu phố đạt chuẩn ấp, khu phố văn hóa đạt 99.89%, tăng 0.1% với năm 2020; 25/27 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị đạt 92.6%; 1.269/1.269 cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa đạt 100%, tăng 2,7% với năm 2020; 1.030/1.095 doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa đạt 94.06%; 01 huyện điển hình về văn hóa (giữ vững huyện Cần Đước).

Tỉnh Tây Ninh: Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 71/71 xã đạt chuẩn nông thôn mới (trong đó có 20 xã biên giới); 25/71 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao (trong đó có 05 xã biên giới); 04/71 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; có 04 huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

(57) Đồng bào có đạo tích cực tham gia thực hiện các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “Xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau, “Xóa nhà tạm, nhà dột nát”...; có nhiều mô hình mang lại hiệu quả tích cực như: Mô hình: “Khu dân cư không có tội phạm và tệ nạn xã hội”, “Tự phòng, tự quản, tự bảo vệ”, “Đồng bào dân tộc, tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu”,…

(58) Tỉnh Long An: Giai đoạn 2021-2024 đã giảm được 3.190 hộ nghèo, so với mục tiêu giai đoạn 2021-2025 giảm 50% số hộ nghèo là 3.148 hộ, đạt 101,3% chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Tổng số hộ nghèo cuối năm 2021 là 6.296 hộ, tỷ lệ 1,31%; số hộ nghèo cuối năm 2024 là 2.692 hộ, tỷ lệ 0,56% (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2022-2025), so với cả nước là 1,93%; hộ cận nghèo cuối năm 2024 là 7.358 hộ, tỷ lệ 1,52%.

Tỉnh Tây Ninh: Đến nay còn khoảng 335 hộ nghèo đa chiều; theo kế hoạch đến cuối năm 2025 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh không còn hộ nghèo.

(59) Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị ban hành về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

(60) Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, do điểm xuất phát thấp; (2) Nguy cơ sai lầm đường lối, đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa; (3) Nguy cơ tham nhũng và tệ quan liêu, lãng phí; (4) Nguy cơ “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

(61) Tăng cường thu hút đầu tư, tập trung đầu tư, nâng cao chất lượng các đô thị hiện hữu, đặc biệt là các đô thị có vị trí trung tâm, đô thị có tính chất, chức năng quan trọng của tỉnh hiện nay (trung tâm hành chính, kinh tế, du lịch, …); tiếp tục phát triển các đô thị, các khu đô thị mới có vị trí tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh; chú trọng phát triển các đô thị, đô thị mới gắn với các trục động lực, hành lang kinh tế đô thị (đường Hồ Chí Minh; đường vành đai 3, vành đai 4; đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Trung Lương, cao tốc Bến Lức-Long Thành, cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Mộc Bài; các trục động lực: Bình Dương-Tây Ninh-Long An; Bình Dương-Tây Ninh-Tân An) hình thành hệ thống các trung tâm, các đô thị quan trọng của tỉnh.

(62) Xây dựng và triển khai thực hiện hiệu quả Đề án thực hiện đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2025-2030 (dự kiến tổng kinh phí thực hiện khoảng trên 6.000 tỷ đồng) với mục tiêu đến năm 2030 chỉ số xếp hạng đánh giá mức độ Chuyển đổi số của tỉnh nằm trong top 10 tỉnh dẫn đầu cả nước; đến năm 2045, phấn đấu nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số, chính quyền điện tử phát triển toàn diện, vận hành hiệu quả.