Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025-2030 diễn ra trong thời điểm lịch sử, đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, có nhiều vận hội và thách thức mới. Với phương châm “Đoàn kết-Dân chủ-Kỷ cương-Đột phá-Phát triển”, Đại hội có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ 2020-2025 và xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2025-2030. Với những định hướng chiến lược đột phá, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, Đại hội thể hiện ý chí, khát vọng xây dựng tỉnh Hà Tĩnh ngày càng giàu đẹp, văn minh, vững bước cùng cả nước tiến vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên phát triển, hội nhập và thịnh vượng của dân tộc Việt Nam.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020-2025 trong bối cảnh thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; kinh tế toàn cầu suy giảm, bất ổn bởi xung đột thương mại, điều chỉnh chính sách của các nước lớn, biến đổi khí hậu và các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt. Trong nước, nền kinh tế chịu tác động nặng nề từ đại dịch Covid-19 và những yếu tố bất lợi từ bên ngoài. Trong tỉnh, thiên tai, dịch bệnh và nhiều vấn đề mới phát sinh đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ. Trong bối cảnh đó, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Đảng bộ và Nhân dân Hà Tĩnh đã đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, đạt nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực.
1. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả quan trọng, nổi bật
1.1. Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức được tăng cường
Đảng bộ luôn kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng phù hợp với điều kiện cụ thể của tỉnh. Các chủ trương, định hướng được cụ thể hóa phù hợp với yêu cầu phát triển của địa phương[1]. Bản lĩnh chính trị, trí tuệ, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp tiếp tục được nâng lên. Công tác học tập, quán triệt, tuyên truyền các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Trung ương và của tỉnh ngày càng đi vào chiều sâu, tạo sức lan tỏa tích cực. Việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, văn hóa trọng đại được chú trọng, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị; giáo dục đạo đức cách mạng, truyền thống lịch sử, văn hóa của quê hương, đất nước tiếp tục được nâng lên[2]; 100% chi bộ, đảng bộ cơ sở triển khai sinh hoạt chuyên đề với nội dung “Tự soi, tự sửa”, “Đảng ta thật là vĩ đại”, “Giữ trọn lời thề đảng viên”, các bài viết, tác phẩm của Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng... đã tạo thành đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng sâu rộng trong toàn Đảng bộ[3].
Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đạt kết quả tích cực. Việc cung cấp, định hướng thông tin cho báo chí và đội ngũ cán bộ, đảng viên được thực hiện kịp thời[4]. Chủ động nắm bắt, dự báo đúng và xử lý các vấn đề tư tưởng, dư luận xã hội quan tâm; kịp thời phát hiện, định hướng, giải quyết các vấn đề phát sinh phức tạp, góp phần giữ vững ổn định tình hình.
Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Kết luận số 21-KL/TW khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới và các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nhân rộng gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực, địa bàn, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tác động tích cực trong đời sống xã hội và thực hiện các nhiệm vụ chính trị[5].
Tăng cường công tác tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
1.2. Xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ và đảng viên đạt nhiều kết quả
Triển khai quyết liệt các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, thống nhất, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Các cơ quan trong hệ thống chính trị được rà soát, sắp xếp lại đầu mối, giảm cấp trung gian[6]. Các đơn vị sau sắp xếp cơ bản ổn định đi vào hoạt động hiệu quả. Chính quyền cấp xã từng bước được kiện toàn, đảm bảo các điều kiện làm việc và đi vào hoạt động thông suốt. Phương án bố trí cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được triển khai đồng bộ, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Các quy định về tổ chức bộ máy được sửa đổi, bổ sung, khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, tạo sự liên thông, đồng bộ trong tổ chức, gắn với việc tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng cán bộ[7].
Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương gắn với sắp xếp bộ máy và đổi mới công tác cán bộ[8]; các mô hình “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt” phát huy cao hiệu quả. Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, nhất là phát triển đảng viên nữ, trẻ, người dân tộc thiểu số, tôn giáo, chủ doanh nghiệp tư nhân[9]. Chất lượng đội ngũ đảng viên được nâng lên; thực hiện rà soát, sàng lọc, đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng[10]. Chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng cao[11]; nhận thức vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ luôn được quan tâm, chỉ đạo.
Công tác cán bộ thực hiện đảm bảo quy trình, quy định; ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về xây dựng đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý, nhất là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Đánh giá cán bộ luôn được quan tâm; việc lấy phiếu tín nhiệm, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển[12], đào tạo, bồi dưỡng cán bộ[13] được thực hiện đảm bảo quy định, chất lượng, tạo được sự đồng thuận cao. Công tác tuyển dụng ngày càng chặt chẽ, quan tâm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP[14]. Công tác chính sách cán bộ được thực hiện khá kịp thời, chu đáo. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được tăng cường, đi vào nền nếp, trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
1.3. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng được tăng cường
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng được tăng cường. Các chủ trương, quy định, hướng dẫn của Trung ương và cấp ủy các cấp được quán triệt, cụ thể hóa và triển khai kịp thời, phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương, đơn vị. Sự phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với hoạt động giám sát, phản biện xã hội và hoạt động của cơ quan thanh tra, các cơ quan bảo vệ pháp luật ngày càng chặt chẽ, hiệu quả. Tổ chức bộ máy ủy ban kiểm tra các cấp được kiện toàn tinh gọn, đủ về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới.
Kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng đạt được nhiều kết quả tích cực, chất lượng, hiệu lực, hiệu quả được nâng lên[15]; thông qua kiểm tra, giám sát đã kịp thời phát hiện chấn chỉnh, ngăn chặn vi phạm; phòng ngừa rủi ro; khắc phục hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý. Đồng thời qua đó phát hiện những bất cập, chồng chéo trong quy định, chính sách để kiến nghị cấp có thẩm quyền hoàn thiện thể chế, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước.
1.4. Công tác dân vận, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, hội quần chúng tiếp tục được chú trọng
Công tác dân vận của hệ thống chính trị tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, phát huy cao hiệu quả; dân chủ ở cơ sở được mở rộng. Công tác tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với Nhân dân được duy trì thường xuyên, tập trung giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ cơ sở[16]. Phong trào thi đua “Dân vận khéo” ngày càng đi vào chiều sâu[17]. Hội thi “Dân vận khéo” được tổ chức đồng bộ từ cơ sở đến tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng công tác dân vận.
Chủ trương, chính sách về tôn giáo, dân tộc được triển khai kịp thời, phù hợp với thực tế của địa phương. Công tác nắm tình hình, dự báo, xử lý các vấn đề liên quan đến tôn giáo, dân tộc được chủ động thực hiện hiệu quả. Thường xuyên quan tâm củng cố hệ thống chính trị ở các địa bàn vùng giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Chủ trương, chính sách về tôn giáo, dân tộc được triển khai kịp thời, phù hợp với thực tế của địa phương. Công tác nắm tình hình, dự báo, xử lý các vấn đề liên quan đến tôn giáo, dân tộc được chủ động thực hiện hiệu quả. Thường xuyên quan tâm củng cố hệ thống chính trị ở các địa bàn vùng giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, hội quần chúng tiếp tục được kiện toàn, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và Nhân dân. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động, tập hợp phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, góp phần huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Hoạt động giám sát, phản biện xã hội được chú trọng; công tác góp ý xây dựng Đảng, chính quyền được triển khai tích cực, khẳng định rõ vai trò “cầu nối” giữa Đảng, chính quyền và Nhân dân.
1.5. Công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được tập trung chỉ đạo, tạo chuyển biến tích cực, rõ nét hơn
Công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, gắn kết giữa “phòng” và “chống”. Việc kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực được chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, tạo chuyển biến rõ nét trong phát hiện, xử lý vi phạm, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân.
Ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tỉnh được kiện toàn, phát huy hiệu quả. Công tác rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế quản lý Nhà nước về kinh tế, ngân sách, đầu tư, đất đai, khoáng sản được quan tâm chỉ đạo, tạo nền tảng pháp lý cho công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Các cấp ủy, chính quyền đã triển khai nghiêm túc, đồng bộ các quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách tư pháp và các cơ quan bảo vệ pháp luật tiếp tục được tăng cường. Việc phối hợp giữa các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đẩy mạnh. Cải cách tư pháp gắn với cải cách hành chính và thực hiện đồng bộ các quy định pháp luật. Kịp thời quán triệt, học tập và ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
1.6. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị
Kế thừa kinh nghiệm của các nhiệm kỳ trước và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Trọng tâm là đổi mới việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết, xác định các nhóm vấn đề trọng tâm trên các lĩnh vực, vừa cần thiết, cấp bách, vừa mang tính chiến lược, nhằm tiếp tục tháo gỡ nút thắt, làm cơ sở ban hành cơ chế, chính sách cho phát triển bền vững.
Quy chế làm việc của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và của các cấp ủy cơ bản được thực hiện nghiêm túc; quá trình thực hiện tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện kịp thời theo quy định của Trung ương, phù hợp với yêu cầu thực tiễn; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các tập thể, cá nhân được quy định rõ, cụ thể; thực hiện phân cấp đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; mối quan hệ công tác giữa cơ quan, đơn vị được quy định chặt chẽ để bổ trợ lẫn nhau. Phong cách, lề lối làm việc đảm bảo dân chủ, khoa học.
Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội; không để xảy ra tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo. Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng gắn với huy động nguồn lực thực hiện an sinh xã hội, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của người dân. Nhờ đó nhiều vướng mắc, tồn đọng được tập trung tháo gỡ; quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân được giải quyết; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đảm bảo.
Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội; không để xảy ra tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo. Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng gắn với huy động nguồn lực thực hiện an sinh xã hội, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của người dân. Nhờ đó nhiều vướng mắc, tồn đọng được tập trung tháo gỡ; quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân được giải quyết; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đảm bảo.
2. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu đúng hướng; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số được quan tâm; công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường được chú trọng
Ban hành hệ thống các cơ chế, chính sách đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội để thực hiện mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng[18]; phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ sau thép, dịch vụ cảng biển và logistics, thu hút đầu tư các dự án năng lượng mới, năng lượng tái tạo; nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 6,4%/năm; quy mô nền kinh tế tăng gấp 1,5 lần so với đầu nhiệm kỳ, đạt 126.000 tỷ đồng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng nông nghiệp còn 13,6%, công nghiệp-xây dựng 40,6%, dịch vụ 45,8%; GRDP bình quân đầu người đạt 94 triệu đồng. Thu ngân sách giai đoạn 2021-2025 ước đạt 88.500 tỷ đồng, tăng 1,6 lần so với giai đoạn 2016-2020, tăng tỷ trọng thu nội địa. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 233.488 tỷ đồng, tăng 47% so với giai đoạn 2016-2020. Đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư công trọng điểm; thu hút một số dự án lớn tạo nền tảng, động lực phát triển, các dự án năng lượng tái tạo[19]; tập trung xử lý các vụ việc, dự án tồn đọng, nhất là liên quan đến lĩnh vực đầu tư, đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng[20].
Sản xuất công nghiệp tiếp tục là động lực chính, tốc độ tăng trưởng gần 7%/năm. Chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nội ngành, đạt 57%; sản phẩm chủ lực như điện, thép đóng góp khoảng 25% GRDP. Khởi công, hoàn thành nhiều dự án lớn như: Nhiệt điện Vũng Áng II công suất 1.200 MW; khu công nghiệp VSIP, Vinhomes Vũng Áng; hai nhà máy sản xuất pin, nhà máy sản xuất ô tô điện Vinfast công suất 400.000 xe/năm…, bước đầu hình thành tổ hợp sản xuất ô tô điện mang tầm khu vực Đông Nam Á.
Nông nghiệp duy trì tăng trưởng khá, đạt trên 3%/năm; tổng sản lượng lương thực 66,7 vạn tấn. Các sản phẩm chủ lực như cam, bưởi, lợn, bò, tôm tiếp tục tăng trưởng từ 46% lên 55%. Bước đầu hình thành một số mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ hiệu quả[21]. Diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững đứng nhóm đầu cả nước, đạt 37.527 ha; là một trong sáu địa phương thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, thu về 6,48 triệu USD.
Xây dựng nông thôn mới tiếp tục được tập trung chỉ đạo, đạt được kết quả quan trọng; hoàn thành 8/8 yêu cầu tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 321/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên. Xây dựng đô thị văn minh đạt kết quả tích cực, 100% phường, thị trấn và 3 thành phố, thị xã đạt chuẩn đô thị văn minh. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tạo ra một số sản phẩm chất lượng, có thương hiệu[22].
Ngành dịch vụ phục hồi nhanh sau đại dịch Covid-19, tăng trưởng bình quân gần 7%/năm; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 15%/năm. Mạng lưới dịch vụ tài chính, ngân hàng tiếp tục phát triển, dư nợ tín dụng được tập trung vào các ngành ưu tiên, tăng bình quân 15,08%/năm. Thương mại điện tử, logistics có chuyển biến tích cực; tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2021-2025 ước đạt 11 tỷ USD, gấp 3 lần giai đoạn trước. Hạ tầng du lịch từng bước được quan tâm đầu tư, lượng khách du lịch tăng qua các năm[23].
Triển khai đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng cải cách hành chính và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Các chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX, SIPAS, PAPI) đạt kết quả tích cực, góp phần tạo lập môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả quản trị và sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.
Tiếp tục phát huy vai trò các thành phần kinh tế, tạo động lực phát triển. Kinh tế tư nhân phát triển khá, giai đoạn 2021-2025 thành lập mới gần 6.500 doanh nghiệp (tăng 2,3 lần so với giai đoạn 2016-2020), đóng góp quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và tăng thu ngân sách[24]. Kinh tế tập thể từng bước hoạt động hiệu quả hơn, toàn tỉnh hiện có gần 1.000 hợp tác xã, trong đó hoạt động tốt và khá chiếm 42%, tạo việc làm thường xuyên gần 65.000 lao động. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng tỷ trọng từ 20% lên 25% GRDP.
Hoàn thành lập Quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; lập, điều chỉnh các quy hoạch đô thị, nông thôn, quy hoạch có tính chất kỹ thuật chuyên ngành. Tập trung nguồn lực đầu tư các chương trình trọng tâm, đột phá phát triển, nhất là hạ tầng đô thị trung tâm, Khu kinh tế Vũng Áng, góp phần mở rộng không gian đô thị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách[25]. Tăng cường hợp tác, liên kết vùng, trao đổi kinh nghiệm phát triển kinh tế-xã hội gắn với thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 03/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ[26].
Triển khai thực hiện đồng bộ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 22/10/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chuyển đổi số. Nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các quy trình, công nghệ mới, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo[27]. Hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin và chuyển đổi số được quan tâm đầu tư[28]; duy trì thông suốt nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu của tỉnh (LGSP), kết nối dữ liệu quốc gia; vận hành hiệu quả Cổng dịch vụ công, hệ thống một cửa điện tử trong giải quyết thủ tục hành chính. Thực hiện Đề án 06, được Chính phủ đánh giá là 1 trong 15 tỉnh có cách làm hiệu quả[29]. Triển khai kịp thời Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường quản lý tài nguyên, khoáng sản, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm. Công tác bảo vệ môi trường, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt bước đầu đạt được một số kết quả quan trọng[30]. Quản lý, khai thác tài nguyên nước, rừng, biển được chú trọng hơn, gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế biển bền vững. Quan tâm đầu tư hạ tầng và triển khai các giải pháp phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu[31].
3. Văn hóa, xã hội đạt nhiều kết quả quan trọng
Chú trọng xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hà Tĩnh trong giai đoạn mới. Tổ chức tốt các sự kiện chính trị, văn hóa gắn với tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, tiềm năng của tỉnh. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa được quan tâm[32]. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh lan tỏa sâu rộng[33]. Thể thao thành tích cao đạt kết quả nổi bật[34]; thể thao quần chúng phát triển mạnh[35].
Chú trọng xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hà Tĩnh trong giai đoạn mới.
Giáo dục và đào tạo đạt kết quả nổi bật, toàn diện. Cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo từng bước được chuẩn hóa, chất lượng trường đạt chuẩn quốc gia được nâng lên, đạt 87,66%, tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt 96,6%[36]. Chất lượng giáo dục toàn diện được giữ vững, giáo dục đại trà chuyển biến tích cực, giáo dục mũi nhọn đạt kết quả cao, nhiều năm liên tục có học sinh đạt huy chương Olympic quốc tế[37]. Ký kết thỏa thuận hợp tác với Đại học Quốc gia Hà Nội về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Công tác khuyến học, khuyến tài và xây dựng xã hội học tập được quan tâm; Quỹ hỗ trợ học sinh đặc biệt khó khăn vào đại học được thành lập và hoạt động có hiệu quả[38]. Đào tạo nghề, giải quyết việc làm được quan tâm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 80%, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho hơn 23.000 người, vượt chỉ tiêu đại hội đề ra.
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân ngày càng được quan tâm. Thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép”, thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả đại dịch Covid-19. Chất lượng khám, chữa bệnh tại các tuyến được nâng lên[39]; liên kết chuyển giao các dịch vụ kỹ thuật mới, chuyên sâu, hiện đại với các bệnh viện Trung ương, đến nay toàn tỉnh hiện có 06 bệnh viện vệ tinh của các bệnh viện lớn Trung ương. Triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử, tích hợp ứng dụng định danh điện tử (VNeID) trong công tác khám, chữa bệnh.
Huy động nguồn lực xã hội hóa thực hiện các chương trình an sinh xã hội với nhiều cách làm mới, hiệu quả; chất lượng cuộc sống của Nhân dân từng bước được nâng lên; xây dựng 105 nhà văn hóa cộng đồng kết hợp tránh trú bão, lũ và trên 12.000 nhà kiên cố cho người có công, hộ nghèo, hộ gặp hoàn cảnh khó khăn; xóa 100% nhà tạm, dột nát.
Huy động nguồn lực xã hội hóa thực hiện các chương trình an sinh xã hội với nhiều cách làm mới, hiệu quả; chất lượng cuộc sống của Nhân dân từng bước được nâng lên; xây dựng 105 nhà văn hóa cộng đồng kết hợp tránh trú bão, lũ và trên 12.000 nhà kiên cố cho người có công, hộ nghèo, hộ gặp hoàn cảnh khó khăn; xóa 100% nhà tạm, dột nát. Triển khai kịp thời các chính sách hỗ trợ người dân, lao động, người sử dụng lao động[40]; thực hiện tốt các chế độ, chính sách bảo hiểm cho người lao động[41]; cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp[42]. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chương trình giảm nghèo bền vững, tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2025 còn 1,9%, giảm bình quân 0,65%/năm; hoàn thành mục tiêu không còn người có công thuộc hộ nghèo.
4. Quốc phòng, an ninh được đảm bảo; chủ động, nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại
Triển khai các giải pháp kết hợp phát triển kinh tế-xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh. Xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh toàn diện, duy trì nghiêm công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Quán triệt, thực hiện nghiêm, hiệu quả Kết luận số 159-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư[43]. Thực hiện tốt công tác xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ; giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng; tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, tuyển sinh quân sự. Tổ chức tốt các cuộc diễn tập[44], thực hiện hiệu quả nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống dịch bệnh. Triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra điểm nóng. Thực hiện nghiêm chủ trương xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy; sắp xếp, vận hành hiệu quả bộ máy công an địa phương hai cấp. Đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, triệt phá nhiều chuyên án lớn, điển hình toàn quốc; giảm các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, hiệu quả nhiệm vụ Đề án 06/CP, đạt nhiều kết quả nổi bật[45].
Đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, xúc tiến đầu tư tại các thị trường trọng điểm như châu Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore; tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, đại sứ quán, cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài. Thắt chặt quan hệ hữu nghị truyền thống với các tỉnh Lào, thúc đẩy hợp tác đầu tư phát triển cảng quốc tế Lào-Việt; vận động kiều bào, người Hà Tĩnh ở nước ngoài hướng về xây dựng quê hương. Thực hiện hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, ngoại giao văn hóa, lãnh sự, bảo hộ công dân; tích cực huy động nguồn vốn ODA cho hạ tầng, vốn NGO cho phòng, chống thiên tai, an sinh xã hội[46]. Chủ động triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; đẩy mạnh hợp tác, liên kết phát triển vùng với các địa phương.
5. Kết quả thực hiện 5 chương trình trọng điểm và 3 đột phá chiến lược
5.1. Năm chương trình trọng điểm
(1) Ban hành các nghị quyết, chính sách quan trọng về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới[47]. Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục làm thay đổi căn bản diện mạo nông thôn[48], nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân[49]; Đề án thí điểm tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới đạt kết quả quan trọng trong điều kiện nguồn lực khó khăn. Ban hành đề án và triển khai bước đầu có kết quả các mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn.
(2) Huy động nguồn lực, triển khai các tuyến giao thông trọng điểm, hình thành các trục phát triển. Tập trung đầu tư hạ tầng Khu kinh tế Vũng Áng và các khu công nghiệp[50]. Hạ tầng số, hạ tầng ứng phó biến đổi khí hậu, môi trường, nước sạch nông thôn, đô thị tiếp tục được hoàn thiện.
(3) Tập trung cao công tác quy hoạch xây dựng, đô thị. Ban hành cơ chế đặc thù phát triển hạ tầng thành phố Hà Tĩnh, thị xã Kỳ Anh, thị xã Hồng Lĩnh; không gian phát triển 3 đô thị được mở rộng, chất lượng đô thị được nâng lên. Chỉnh trang, nâng cấp, tạo diện mạo mới, hiện đại về hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan đô thị thành phố Hà Tĩnh.
(4) Các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của con người Hà Tĩnh được kế thừa và phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển của quê hương, đất nước. Chất lượng giáo dục nghề nghiệp được nâng lên; chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và lao động đặc thù, gắn với giải quyết việc làm, đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao trong các ngành nghề mới.
(5) Ban hành và triển khai kịp thời các chính sách phục hồi phát triển du lịch sau đại dịch Covid-19; đa dạng hóa các hoạt động quảng bá, xúc tiến, kích cầu du lịch. Quan tâm bố trí nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh thu hút các dự án phát triển hạ tầng du lịch, nhất là du lịch biển.
5.2. Ba đột phá chiến lược
(1) Triển khai Nghị quyết của Tỉnh ủy về xây dựng đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; xây dựng chính sách khuyến khích phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ[51]. Thực hiện bước đột phá về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, khung năng lực.
(2) Hoàn thành sắp xếp 209 đơn vị xã, phường, thị trấn thành 69 đơn vị hành chính cấp xã mới, đảm bảo tiến độ, chất lượng theo yêu cầu của Trung ương; là một trong những tỉnh đầu tiên trình phương án với Chính phủ; quá trình sắp xếp được tổ chức khoa học, hiệu quả, tạo sự đồng thuận cao trong Nhân dân. Việc xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số được quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện và đạt được một số kết quả bước đầu. Năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành và địa phương được cải thiện, góp phần tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tại các sở, ngành, địa phương. Kỷ luật, kỷ cương hành chính tiếp tục được siết chặt, đạo đức công vụ chuyển biến tích cực.
(3) Ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách Trung ương, ngân sách tỉnh đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Vũng Áng[52]. Thu hút các dự án lớn vào khu kinh tế tạo động lực mới cho tăng trưởng, phát triển[53].
Đạt được những kết quả trên là nhờ sự quan tâm, giúp đỡ của Trung ương; kế thừa và phát huy những kết quả, bài học kinh nghiệm, truyền thống cách mạng, văn hóa và con người Hà Tĩnh; cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành linh hoạt, xác định đúng nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, kịp thời cụ thể hóa các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Trung ương phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; cả hệ thống chính trị đoàn kết, đồng lòng quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức; sự vào cuộc tích cực của các tầng lớp Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; quan tâm chia sẻ, hỗ trợ của con em quê hương trên mọi miền Tổ quốc, kiều bào ở nước ngoài.
1. Về công tác xây dựng Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị
Xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện một số nghị quyết, kết luận của Trung ương và Tỉnh ủy chưa sát với tình hình thực tiễn. Chất lượng học tập các chủ trương, nghị quyết, lý luận chính trị chưa cao. Công tác nắm tình hình tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, dư luận xã hội có lúc thiếu kịp thời; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc, nhất là trên không gian mạng một số vụ việc còn bị động.
Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Kết luận số 21-KL/TW và Chỉ thị số 05-CT/TW, Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị, các quy định về nêu gương, quy định về chuẩn mực đạo đức ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chuyển biến chưa rõ nét. Thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình của một số cấp ủy, tổ chức đảng còn nể nang, thiếu các giải pháp hiệu quả để khắc phục hạn chế, yếu kém sau kiểm điểm.
Công tác đánh giá cán bộ ở một số thời điểm chưa sát thực tiễn, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể. Công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên chưa chặt chẽ; ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, tính gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên, người đứng đầu chưa cao. Một số cán bộ luân chuyển chưa phát huy cao vai trò, trách nhiệm, thiếu quyết liệt, chưa thực sự tâm huyết. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nhất là giải quyết các vụ việc phát sinh từ cơ sở và một số tồn đọng kéo dài. Phát triển đảng viên mới chưa đạt chỉ tiêu đề ra[54]; việc khắc phục tình trạng thôn, tổ dân phố chưa có đảng viên, chi bộ sinh hoạt ghép vẫn còn khó khăn[55].
Đổi mới phương thức lãnh đạo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu, một số nhiệm vụ trọng tâm, đột phá lãnh đạo chưa hiệu quả; việc phân cấp, phân quyền còn những bất cập. Việc thực hiện quy chế làm việc của một số cấp ủy chưa nghiêm. Hoạt động của nhiều đoàn công tác của ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện chưa thực sự hiệu quả. Công tác phối hợp giữa một số cơ quan, đơn vị, địa phương trong thực hiện nhiệm vụ và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc có vụ việc thiếu chặt chẽ, còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm.
Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức công tác kiểm tra, giám sát dẫn đến chất lượng, hiệu quả chưa cao. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp chưa đồng đều; việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số vào thực hiện nhiệm vụ còn bất cập.
Công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp có nội dung chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với Nhân dân có nơi hiệu quả chưa cao, một số khó khăn, vướng mắc ở cơ sở chậm được giải quyết dứt điểm. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội ở một số địa phương còn chậm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; công tác giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền trên một số lĩnh vực còn hạn chế.
Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là tự phát hiện, xử lý trong nội bộ. Vai trò, trách nhiệm của một số người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đạo thực thi các nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật về phòng, chống lãng phí còn hạn chế. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về phòng, chống lãng phí chưa đầy đủ. Công tác quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách, tài sản công, đất đai, khoáng sản, đầu tư, xây dựng có thời điểm chưa tốt. Việc thực hiện kết luận, kiến nghị của các cơ quan thanh tra, kiểm tra chưa triệt để. Việc xử lý lãng phí mới tập trung vào những hành vi lãng phí có liên quan trực tiếp đến tham nhũng. Chưa tạo được phong trào thi đua rộng khắp về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
2. Về kinh tế, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường
Một số chỉ tiêu kinh tế quan trọng không đạt kế hoạch, như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, GRDP bình quân đầu người, thu ngân sách...; tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách thiếu bền vững, chủ yếu phụ thuộc vào doanh nghiệp FDI. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, chưa khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của địa phương. Sản xuất công nghiệp gặp khó khăn[56]. Sản xuất nông nghiệp hàng hóa liên kết theo chuỗi giá trị chưa được nhân rộng; chưa có nhiều sản phẩm chế biến, chế biến sâu. Nguồn lực thực hiện Đề án xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh khó khăn. Phát triển kinh tế biển, dịch vụ, du lịch chưa tương xứng với tiềm năng.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng, chính sách phục hồi kinh tế còn hạn chế. Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, sức cạnh tranh thấp, thiếu tính liên kết, chưa có doanh nghiệp lớn của tỉnh đóng vai trò dẫn dắt. Hệ thống chính sách còn dàn trải, chưa tập trung nguồn lực thực hiện các chính sách lớn, đột phá.
Hạ tầng giao thông, đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa được đầu tư đồng bộ; công tác giải phóng mặt bằng còn nhiều vướng mắc. Tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp còn thấp[57]. Đô thị hóa diễn ra chậm, quy hoạch xây dựng thiếu tính liên kết. Công tác bảo vệ môi trường, cấp nước sạch nông thôn và xử lý chất thải rắn còn hạn chế. Khoa học-công nghệ và chuyển đổi số chưa trở thành động lực phát triển; nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu.
Việc xử lý sau thanh tra, kiểm toán tại một số địa phương, đơn vị, chưa triệt để. Một số vấn đề phát sinh ở cơ sở, vướng mắc, tồn đọng lớn chưa được giải quyết kịp thời, dứt điểm.
3. Văn hóa, xã hội, con người
Chưa khai thác, phát huy tối đa các giá trị văn hóa, nhất là các di sản được UNESCO vinh danh; chưa có những công trình văn hóa quy mô lớn. Cơ sở vật chất trường lớp còn thiếu; cơ cấu đội ngũ nhà giáo chưa hợp lý, phát triển giáo dục ngoài công lập còn khó khăn, công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở hiệu quả chưa cao. Chất lượng khám, chữa bệnh chưa đáp ứng yêu cầu; thu hút đội ngũ bác sĩ gặp khó khăn. Đào tạo nghề, cung ứng lao động chưa đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp.
4. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân về nhiệm vụ quốc phòng, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chưa đầy đủ; nguồn lực đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ còn hạn chế. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có nơi, có lúc tiềm ẩn phức tạp; đấu tranh phòng, chống tội phạm còn khó khăn, nhất là tội phạm ma túy, lừa đảo qua mạng, tội phạm xuyên quốc gia. Hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư và nguồn viện trợ những năm đầu nhiệm kỳ gặp khó khăn.
5. Về thực hiện năm chương trình trọng điểm, ba đột phá chiến lược
Năm chương trình trọng điểm: Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết chuỗi giá trị với doanh nghiệp, hợp tác xã gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm kết quả chưa cao. Thực hiện nghị quyết về thí điểm xây dựng tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 chưa đạt mục tiêu đề ra. Chưa phát huy được tiềm năng từ kinh tế biển, du lịch biển. Hạ tầng kinh tế-xã hội còn thiếu đồng bộ; đầu tư hạ tầng, thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Vũng Áng còn khó khăn. Hạ tầng đô thị, chưa được đầu tư đồng bộ. Chưa phát huy tốt giá trị các di sản văn hóa. Công tác đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu. Du lịch chưa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Ba đột phá chiến lược: Thu hút nhân lực chất lượng cao, tuyển dụng công chức chưa đáp ứng yêu cầu. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chưa đồng đều. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh còn thiếu đồng bộ, một số cán bộ lãnh đạo, quản lý năng lực thực tiễn, hiệu quả công việc, uy tín chưa cao, chưa ngang tầm nhiệm vụ. Cải cách hành chính, chuyển đổi số một số mặt, lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu. Môi trường đầu tư kinh doanh chưa thật sự thuận lợi, kết quả các chỉ số cải cách hành chính, cạnh tranh cấp tỉnh chưa bền vững. Khu kinh tế Vũng Áng chưa thực sự trở thành khu kinh tế đa chức năng, trung tâm công nghiệp động lực và logistics.
Những hạn chế, yếu kém và kết quả thực hiện các chỉ tiêu tại Nghị quyết Đại hội không đạt kế hoạch[58] nêu trên ngoài nguyên nhân khách quan như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh; tác động bất lợi từ tình hình chính trị, kinh tế thế giới; hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ... nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu: Một số cấp ủy xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết, kết luận của Trung ương, của tỉnh còn chậm. Nhiều nghị quyết được ban hành nhưng khâu tổ chức thực hiện chưa đồng bộ; công tác kiểm tra, giám sát chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo có thời điểm chưa quyết liệt, thiếu chủ động. Chưa dự báo hết tình hình dẫn đến việc xây dựng một số chỉ tiêu chưa sát với thực tế. Phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương có lúc chưa hiệu quả, nhất là khi phát sinh các vấn đề mới. Một bộ phận cán bộ, công chức mang nặng tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm trong thực thi công vụ. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa được phát huy đầy đủ; một số người đứng đầu còn biểu hiện thiếu dân chủ, khách quan trong đánh giá cán bộ; chưa quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên ở các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp.
Đánh giá tổng quát, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, tuy còn một số hạn chế, bất cập nhưng Hà Tĩnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực.
Đánh giá tổng quát, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, tuy còn một số hạn chế, bất cập nhưng Hà Tĩnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực. Kinh tế duy trì tăng trưởng khá, quy mô ngày càng mở rộng; tiềm lực, sức chống chịu và khả năng thích ứng được nâng lên, tạo đà tăng trưởng nhanh cho giai đoạn tiếp theo. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến; tổ chức bộ máy được sắp xếp tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, gần dân, phục vụ Nhân dân tốt hơn. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; đối ngoại, hợp tác, hội nhập tiếp tục được mở rộng. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được triển khai quyết liệt, đạt nhiều kết quả, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, chính quyền. Văn hóa-xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân không ngừng cải thiện; khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, đồng thuận xã hội tăng cường. Những kết quả đạt được tạo nền tảng, tiền đề vững chắc để Hà Tĩnh bước vào giai đoạn phát triển mới.
Thứ nhất, bám sát chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động, kịp thời, linh hoạt cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Trung ương sát với thực tế, tôn trọng khách quan, đảm bảo thực chất; dự báo kịp thời những diễn biến mới, chủ động phương án, linh hoạt ứng phó tình huống bất ngờ phát sinh; kịp thời ban hành các chính sách phù hợp điều kiện thực tiễn, mạnh dạn đổi mới sáng tạo, đề ra các giải pháp đồng bộ, khả thi, khoa học.
Thứ hai, nghiêm túc, kịp thời tổng kết thực tiễn, kế thừa hợp lý những kết quả đã đạt được và những bài học kinh nghiệm qua các nhiệm kỳ. Chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong tổ chức thực hiện. Tăng cường phân cấp gắn với kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
Thứ ba, làm tốt công tác cán bộ, nhất là bố trí và sử dụng đúng cán bộ. Phát huy dân chủ, sức mạnh đoàn kết, đồng thuận, tinh thần tự lực, tự cường, giá trị văn hóa, khơi dậy khát vọng sáng tạo, cống hiến của người Hà Tĩnh. Huy động hiệu quả mọi nguồn lực, tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương, hỗ trợ của các tỉnh bạn, của người Hà Tĩnh trong và ngoài nước để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, nhất là thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, chương trình trọng điểm và đột phá chiến lược.
Thứ tư, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo huy động cả hệ thống chính trị giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp kéo dài; luôn đồng hành với người dân, doanh nghiệp trong tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; quan tâm giải quyết nhu cầu hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
Thứ năm, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tạo môi trường thuận lợi để phát triển. Chủ động nắm bắt, dự báo tình hình; kiên quyết, kiên trì, xử lý dứt điểm các vụ việc ngay từ cơ sở. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, trang bị kiến thức, nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, người dân. Tăng cường hợp tác quốc tế, kêu gọi, thu hút đầu tư.
I. BỐI CẢNH, TÌNH HÌNH
Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt; xung đột, chiến tranh xảy ra ở nhiều nơi, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo, tạo đột phá chưa từng có; xu thế tự chủ chiến lược về kinh tế, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng ngày càng được các quốc gia thúc đẩy.
Trong nước, sau gần 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế được nâng cao, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới. Vai trò, phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục đổi mới, nền tảng tư tưởng, lý luận được bổ sung, phát triển; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đạt nhiều kết quả nổi bật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện, năng lực quản lý, điều hành được nâng lên. Hệ thống chính trị được tinh gọn, cùng với những quyết sách chiến lược về phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, giáo dục và đào tạo, y tế,.. tạo cơ hội lịch sử cho đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới.
Hà Tĩnh có vị trí chiến lược ở trung tâm Bắc Trung Bộ, trên các trục giao thông huyết mạch bắc-nam, Đông-Tây; bờ biển dài 137 km, vùng biển rộng lớn thuận lợi phát triển kinh tế biển. Cảng Vũng Áng-Sơn Dương là một trong những cảng nước sâu lớn nhất cả nước, định hướng thành trung tâm logistics quốc gia, khu vực. Có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích, bãi biển đẹp, bản sắc văn hóa đặc sắc với hệ thống di sản, làng nghề truyền thống. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội ngày càng hoàn thiện, hạ tầng giao thông chiến lược, liên kết vùng dần hình thành; nhiều dự án lớn đang thu hút đầu tư, tạo động lực phát triển mới. Cấp ủy, chính quyền đổi mới tư duy, kiến tạo môi trường đầu tư thuận lợi.
Tuy nhiên, tình hình thế giới và các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống vẫn diễn biến phức tạp. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, mục tiêu tăng trưởng “2 con số” vừa là cơ hội vừa là áp lực lớn khi các động lực cũ đã bão hòa, động lực mới cần thời gian phát huy. Nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn nhiều thách thức; doanh nghiệp còn khó khăn, thiếu vắng lực lượng dẫn dắt.
Trong bối cảnh đó, đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Hà Tĩnh phải không ngừng nâng cao bản lĩnh, ý chí, phát huy đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, nỗ lực vươn lên để phát triển nhanh và bền vững.
II. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
1. Phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng công nghiệp hiện đại, dịch vụ chất lượng cao và nông nghiệp thông minh; lấy công nghiệp làm trụ cột, Khu kinh tế Vũng Áng là động lực tăng trưởng, gắn với phát triển kinh tế biển, cảng biển, năng lượng tái tạo, chế biến chế tạo, logistics. Tăng trưởng phải đi đôi với bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
2. Đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu trên cơ sở vận dụng sáng tạo các nghị quyết chuyên đề quan trọng của Trung ương về đổi mới công tác xây dựng và thực thi pháp luật; phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển kinh tế tư nhân; hội nhập quốc tế; đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, y tế.
3. Huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để thực hiện các định hướng chiến lược, đột phá theo Quy hoạch tỉnh. Tăng cường liên kết vùng, mở rộng hợp tác phát triển với các địa phương trong khu vực và cả nước. Phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn, vùng đồng bằng, miền núi, ven biển; tiếp tục nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới, đô thị văn minh.
4. Phát huy giá trị văn hóa và con người Hà Tĩnh trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững; xác định giáo dục và đào tạo là động lực then chốt, chú trọng đào tạo, thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng đội ngũ doanh nhân bản lĩnh, trí tuệ, có trách nhiệm xã hội; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội; đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của Nhân dân. Bảo đảm quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại.
5. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phát huy dân chủ cơ sở, giám sát của Nhân dân; đẩy mạnh cải cách hành chính, phục vụ tốt người dân, doanh nghiệp.
III. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ phát triển; hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước hiện đại; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường; phát huy giá trị văn hóa, con người và nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh chuyển đổi số, mở rộng đối ngoại, củng cố quốc phòng, an ninh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe của Nhân dân.
2. Chỉ tiêu cụ thể
* Về công tác xây dựng Đảng: (1) Tỷ lệ đảng viên bình quân được kết nạp hàng năm phấn đấu tối thiểu 3% tổng số đảng viên; (2) Hàng năm có trên 90% tổ chức đảng trực thuộc hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; (3) Hàng năm có trên 90% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.
* Về kinh tế: (4) Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân từ 10% trở lên; (5) Cơ cấu GRDP đến năm 2030: Công nghiệp-xây dựng chiếm 51%, Dịch vụ chiếm 40%, Nông nghiệp chiếm 9%; (6) GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 168 triệu đồng; (7) Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 80 triệu đồng; (8) Tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP đến năm 2030 đạt 29%; (9) Giá trị sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản đến năm 2030 đạt 112 triệu đồng; (10) Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2030 đạt 4 tỷ USD; (11) Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt 10%; (12) Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn cả giai đoạn đạt 320.000 tỷ đồng; (13) Phấn đấu đến năm 2030 có 18.000-20.000 doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế; (14) Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đến năm 2030 đạt 15-20%; (15) Xếp hạng hoạt động chính quyền số đến năm 2030 thuộc nhóm 15/34 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước; (16) Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2030 đạt 38%.
* Về xã hội, môi trường: (17) Chỉ số phát triển con người (HDI) đến năm 2030 phấn đấu đạt 0,76; (18) Đến năm 2030 có trên 90% trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trên 80% trường trung học phổ thông công lập và ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia; (19) Đến năm 2030 hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; (20) Đến năm 2030 có ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành cấp trung học phổ thông và tương đương; (21) Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 01 lần; (22) Đến năm 2027 có ít nhất 04 bác sĩ/trạm y tế; (23) Đến năm 2030 có ít nhất 14,6 bác sĩ và 45 giường bệnh trên 1 vạn dân; (24) Đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội đạt 36,2%; (25) Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đến năm 2030 đạt 85%; (26) Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm bình quân 0,5%/năm; (27) Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn đến năm 2030 đạt 80%; (28) Duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 52%; (29) Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đến năm 2030 đạt 98%.
* Về quốc phòng, an ninh: (30) Tỷ lệ xã, phường đạt chuẩn an toàn về an ninh trật tự đến năm 2030 đạt 95%, cơ sở vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu về quốc phòng, an ninh trong tình hình mới đến năm 2030 đạt 97%; (31) Tỷ lệ xã, phường không ma túy đến năm 2030 tối thiểu đạt 50%.
IV. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
1. Tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của các cấp ủy đảng trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo tinh thần nghị quyết của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Tiếp tục xây dựng chính quyền địa phương hai cấp bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; đổi mới công tác cán bộ trong đó chú trọng công tác đánh giá gắn với bố trí cán bộ đúng người, đúng việc, phát huy năng lực, sở trường, nâng cao hiệu quả thực thi nhiệm vụ.
2. Huy động hiệu quả mọi nguồn lực thực hiện các định hướng chiến lược, đột phá: “một trung tâm động lực”, “ba hành lang kinh tế”, “bốn ngành trọng điểm”, “ba vùng đô thị”. Đề xuất thành lập Khu thương mại tự do Vũng Áng. Phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của các xã, phường sau sắp xếp đơn vị hành chính, tạo nền tảng vững chắc để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển hài hòa, gắn kết giữa các vùng miền, nâng cao chất lượng đô thị và xây dựng nông thôn mới. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
3. Thực hiện hiệu quả các nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp sản xuất thép, chế biến chế tạo sau thép; các ngành công nghiệp mới, công nghệ cao, công nghệ xanh. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án năng lượng. Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hiệu quả cao, hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, thông minh gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Phát triển kinh tế biển, trọng tâm là du lịch, dịch vụ, logistics gắn với cảng biển nước sâu Vũng Áng-Sơn Dương.
4. Phát huy giá trị văn hóa và con người Hà Tĩnh, các danh nhân, di sản được UNESCO vinh danh[59]. Tiếp tục đổi mới đồng bộ, toàn diện và đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao[60]. Triển khai các giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.
5. Tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị về quân sự, quốc phòng, an ninh. Thực hiện hiệu quả chiến lược bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; đẩy mạnh các giải pháp phòng ngừa, kéo giảm tội phạm hình sự, ma túy; tập trung xây dựng địa bàn xã, phường sạch về ma túy. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị; tiếp tục quảng bá hình ảnh Hà Tĩnh đến với bạn bè trong nước và quốc tế; tăng cường hợp tác kinh tế, đẩy mạnh giao lưu, hợp tác quốc phòng an ninh, góp phần giữ vững chủ quyền, củng cố mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào[61].
V. CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ
1. Đẩy mạnh chuyển đổi số trên ba trụ cột xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số, thúc đẩy xã hội số và quản trị công, đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp hiệu quả.
2. Tập trung phát triển, thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp cơ sở có uy tín, trình độ lý luận, năng lực thực tiễn, hành động quyết liệt, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.
3. Phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thu hút dự án đầu tư chiến lược, trọng tâm là khu, cụm công nghiệp quy mô lớn, logistics, giao thông kết nối khu kinh tế, khu công nghiệp, du lịch, cửa khẩu với hệ thống giao thông quốc gia; hạ tầng khu vực ga đường sắt tốc độ cao (theo mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng-TOD). Xây dựng, mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng trở thành trung tâm công nghiệp-năng lượng-cảng biển-logistics của khu vực và cả nước.
VI. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Lãnh đạo công tác xây dựng Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị
1.1. Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức
Kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng bộ và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trước hết là cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy định, thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng.
Nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành các chủ trương, định hướng phát triển của tỉnh trong tình hình mới. Nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Kiên quyết khắc phục những khuyết điểm, yếu kém, tình trạng né tránh trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện. Khuyến khích và bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển của tỉnh và đất nước.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của công tác tư tưởng. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Làm tốt công tác dự báo tình hình, chủ động nắm chắc tư tưởng cán bộ, đảng viên, dư luận xã hội, kịp thời định hướng thông tin, xử lý hiệu quả các vấn đề mới, củng cố niềm tin, bảo đảm sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội.
Đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền; công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, giáo dục truyền thống quê hương, con người Hà Tĩnh, nhất là đối với thế hệ trẻ, gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Trường Chính trị Trần Phú, các trung tâm chính trị; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, nghiên cứu và giáo dục lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Tăng cường công tác quản lý, định hướng hoạt động, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, vai trò của văn học, nghệ thuật trên mặt trận tư tưởng.
Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Kết luận số 21-KL/TW khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các quy định của Trung ương, của tỉnh về trách nhiệm nêu gương, chuẩn mực đạo đức của cán bộ đảng viên. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống.
1.2. Tăng cường công tác xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ
Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tập trung thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chủ trương của Đảng về đổi mới và hoàn thiện tổ chức bộ máy, hoạt động của hệ thống chính trị; tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; rà soát, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của từng cơ quan, tổ chức, bảo đảm khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ sót chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan, tổ chức; đảm bảo vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp thông suốt, đồng bộ, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.
Tăng cường công tác theo dõi, giám sát, đánh giá tình hình tổ chức bộ máy, kịp thời đúc rút kinh nghiệm, chủ động đề xuất với cấp có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện mô hình tổ chức phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, đảm bảo gần dân, sát dân, phục vụ thiết thực quyền và lợi ích của Nhân dân.
Tăng cường công tác theo dõi, giám sát, đánh giá tình hình tổ chức bộ máy, kịp thời đúc rút kinh nghiệm, chủ động đề xuất với cấp có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện mô hình tổ chức phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, đảm bảo gần dân, sát dân, phục vụ thiết thực quyền và lợi ích của Nhân dân.
Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, gắn với việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, trọng tâm là nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng, xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, đặc biệt là bí thư cấp ủy đảm bảo đủ phẩm chất, năng lực và uy tín để lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển tổ chức đảng trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, doanh nghiệp ngoài nhà nước, tổ hợp tác và hợp tác xã. Thành lập các tổ chức đảng tại doanh nghiệp ngoài nhà nước; triển khai có hiệu quả các mô hình “Chi bộ bốn tốt”, “Đảng bộ cơ sở bốn tốt”. Đổi mới hoạt động và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, triển khai hiệu quả thí điểm sinh hoạt trực tuyến tại các đảng bộ cơ sở và chi bộ có tính chất đặc thù hoặc trong hoàn cảnh đặc biệt. Đẩy mạnh sinh hoạt đảng theo tổ đảng ở các chi bộ có đông đảng viên, chú trọng đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ nhằm đảm bảo tính thực chất. Triển khai có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh về đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.
Tăng cường công tác quản lý đảng viên; rà soát, sàng lọc và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách. Tập trung lãnh đạo bồi dưỡng, kết nạp đảng viên mới tại các địa bàn khó khăn, như khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và doanh nghiệp ngoài nhà nước; những lĩnh vực có “dư địa” nhiều quần chúng như: đơn vị y tế, giáo dục, doanh nghiệp, học sinh, sinh viên...
Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, đạo đức trong sáng; cán bộ chất lượng cao về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, mạnh dạn đổi mới sáng tạo; đủ năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Rà soát và sửa đổi các quy định liên quan đến công tác cán bộ theo hướng công khai, dân chủ, minh bạch. Chú trọng rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy chế hoạt động, quy chế làm việc, quy chế phối hợp bảo đảm rõ chức năng, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm, nâng cao tính chủ động, thống nhất và hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và phối hợp thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Tiếp tục rà soát, đánh giá tổng thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, năng lực thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ mới gắn với thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Sắp xếp, bố trí lại cán bộ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng địa phương, cơ quan, đơn vị; đúng người, đúng việc. Có phương án đào tạo, bồi dưỡng, chuyển đổi vị trí công tác hoặc giải quyết chế độ chính sách theo quy định đối với số cán bộ, công chức dôi dư, cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ
Tăng cường quản lý, theo dõi và đánh giá cán bộ đảm bảo chính xác, khách quan theo sản phẩm đầu ra. Làm tốt công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ, chú trọng và bố trí cán bộ khoa học, chuyển đổi số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ. Triển khai chương trình đào tạo cán bộ từ thôn, tổ dân phố đến cấp tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút và đào tạo cán bộ, nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên gia giỏi trên các lĩnh vực quan trọng về công tác tại địa phương. Thực hiện hiệu quả công tác luân chuyển, sắp xếp, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kịp thời chỉnh đốn và xử lý nghiêm các trường hợp thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc vi phạm trong công tác cán bộ. Coi trọng và thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
1.3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng
Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp, người đứng đầu cấp ủy đối với công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng: Tiếp tục quán triệt, phổ biến, cụ thể hóa kịp thời chủ trương, nghị quyết, quy định; xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy trình, hướng dẫn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tình hình thực tiễn; nâng cao chất lượng và kịp thời xây dựng, ban hành quy chế làm việc, chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa, hàng năm của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp; tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; phối hợp kịp thời, đồng bộ, hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan bảo vệ pháp luật và giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và Nhân dân.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy đảng và của ủy ban kiểm tra các cấp, trong đó coi trọng nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát ngay từ chi bộ; kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với nhiệm vụ chính trị của tỉnh, địa phương, đơn vị và tình hình thực tế. Đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp, cách thức tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Đảng: Chuyển trọng tâm sang công tác phòng ngừa, cảnh báo vi phạm; chuyển từ thụ động sang chủ động nắm chắc tình hình để phát hiện vi phạm từ sớm, từ xa; gắn công tác kiểm tra, giám sát với kiểm soát quyền lực, việc kê khai, công khai tài sản, thu nhập; đổi mới công tác giám sát thường xuyên. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát góp phần lãnh đạo, chỉ đạo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn đối với các dự án chậm tiến độ, kéo dài, gây lãng phí.
Xây dựng ủy ban kiểm tra các cấp tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức kiểm tra các cấp có năng lực, bản lĩnh, liêm chính, chuyên nghiệp, có trình độ và năng lực ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động của ngành Kiểm tra Đảng.
1.4. Đổi mới công tác dân vận của hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, hội quần chúng
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới. Phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đặc biệt là các cơ quan nhà nước đối với công tác dân vận. Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để Nhân dân tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện các cơ chế, chính sách, chương trình, đề án phát triển kinh tế-xã hội. Tăng cường công tác tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với Nhân dân. Nâng cao hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình trên các lĩnh vực đời sống xã hội.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo, đồng bào có đạo hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ quy định pháp luật, thực hiện phương châm “sống tốt đời, đẹp đạo”; giải quyết kịp thời các nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của các tổ chức tôn giáo; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Phát huy hiệu quả giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số để phát triển kinh tế-xã hội.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, hội quần chúng; phát huy vai trò nòng cốt trong việc tập hợp, đoàn kết, vận động đoàn viên, hội viên thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện tốt vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và Nhân dân; tăng cường hoạt động giám sát, phản biện xã hội; đẩy mạnh các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước thiết thực, hiệu quả; phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương.
1.5. Tiếp tục đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác nội chính trong tình hình mới
Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra theo hướng hỗ trợ, thúc đẩy, tạo đà cho phát triển bền vững; không hình sự hóa các mối quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, can thiệp, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Chỉ đạo quyết liệt công tác chống lãng phí gắn với đột phá về cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục đề ra các cơ chế bảo vệ, khuyến khích, khơi dậy tinh thần cống hiến, tạo động lực và áp lực để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, tận tụy phục vụ Nhân dân, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban Chỉ đạo, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Triển khai quyết liệt, thường xuyên, toàn diện đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; trước hết là những lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chỉ đạo giải quyết dứt điểm 100% công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng, hoạt động cầm chừng, hiệu quả thấp hoặc ngừng triển khai theo kết luận của các cơ quan chức năng để khơi thông các nguồn lực, đưa tài sản, đất đai vào sản xuất, tránh thất thoát, lãng phí, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Kiện toàn tổ chức, bộ máy, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức các cơ quan tham mưu, thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đẩy mạnh công tác phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khu vực ngoài nhà nước. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc, cơ quan truyền thông, báo chí và Nhân dân đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân. Thực hiện tốt việc tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân, giải quyết kịp thời, hiệu quả khiếu nại, tố cáo và xử lý kiến nghị, phản ánh của công dân theo quy định, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân; hạn chế khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài. Chủ động xử lý kịp thời, triệt để các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh, không để xảy ra điểm nóng, khiếu kiện đông người kéo dài, các vụ việc phức tạp ngay từ cơ sở.
1.6. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị
Đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết, chỉ thị, kết luận... theo hướng đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp thực tiễn, tính khả thi cao và dự báo tốt. Tập trung chọn những vấn đề chiến lược, đột phá để tháo gỡ điểm nghẽn, tạo động lực phát triển. Kịp thời cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả các chủ trương của Trung ương phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh. Đổi mới hình thức sơ kết, tổng kết các nghị quyết, đảm bảo hiệu quả và thiết thực.
Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Phát huy vai trò của cơ quan báo chí, truyền thông, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, AI, mạng xã hội để tăng tính nhanh chóng, phù hợp và hiệu quả.
Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo sắp xếp bộ máy hệ thống chính trị đảm bảo tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Rà soát, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phân cấp rõ ràng, tránh trùng lặp, chồng chéo. Đẩy mạnh tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ theo vị trí việc làm, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là các ngành, lĩnh vực trọng yếu. Khắc phục hình thức, yếu kém trong đánh giá cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý, đủ phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị đảm bảo sâu sát, kịp thời, đúng vai, không bao biện. Thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc của cấp ủy các cấp; nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Tăng cường trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu.
Lãnh đạo đổi mới phương thức hoạt động của hội đồng nhân dân, phát huy vai trò Nhân dân tham gia xây dựng chính sách. Nâng cao chất lượng kỳ họp, giám sát chuyên đề, chất vấn, trả lời chất vấn và hoạt động tiếp xúc cử tri, đảm bảo giải quyết hiệu quả các vấn đề trọng tâm tại địa phương.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành, cụ thể hóa và triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy. Tăng cường cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng. Phát huy vai trò Trung tâm hành chính công các cấp hỗ trợ tốt nhất cho người dân và doanh nghiệp. Tăng cường đối thoại và lắng nghe ý kiến từ Nhân dân.
Phát huy vai trò các đoàn công tác của Ban Thường vụ Tỉnh ủy trong việc chỉ đạo, kiểm tra, giám sát tại cơ sở, đảm bảo thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị.
2. Lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội
2.1. Nâng cao chất lượng xây dựng và quản lý quy hoạch đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; chú trọng liên kết vùng
Rà soát, điều chỉnh quy hoạch tỉnh theo hướng tối ưu hóa không gian phát triển, tạo lập các động lực phát triển mới gắn với việc triển khai hiệu quả các chủ trương, định hướng lớn của Trung ương. Phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế không gian phát triển của các đơn vị hành chính cấp xã và các vùng liên xã trong cấu trúc tổng thể toàn tỉnh; tập trung hình thành các khu vực phát triển gắn với các đầu mối giao thông quốc gia, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ đến các vùng phụ cận. Đẩy nhanh lập mới, điều chỉnh các quy hoạch ngành, quy hoạch khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, quy hoạch đô thị, nông thôn và quy hoạch sử dụng đất cấp xã, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các cấp quy hoạch; gắn kết quy hoạch với các mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quy hoạch đồng bộ; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và nền tảng số trong công tác quản lý, giám sát và tổ chức thực hiện quy hoạch. Ban hành các cơ chế, chính sách để triển khai đồng bộ, hiệu quả các quy hoạch. Tăng cường liên kết, hợp tác phát triển kinh tế vùng, thúc đẩy hình thành cụm liên kết ngành kinh tế biển Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh-Quảng Trị[62].
2.2. Tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tích cực thực hiện mục tiêu chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh phát triển “một trung tâm động lực”, “ba hành lang kinh tế”, “bốn ngành trọng điểm”, “ba vùng đô thị”, kinh tế biển
Tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới với trọng tâm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Mở rộng và phát triển Khu kinh tế Vũng Áng trở thành khu kinh tế đa chức năng, trung tâm công nghiệp động lực và logistics của khu vực và cả nước; nghiên cứu đề xuất cấp có thẩm quyền thành lập Khu thương mại tự do Vũng Áng; hoàn thiện chức năng nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; đề ra các cơ chế chính sách, huy động nguồn lực đầu tư các công trình trọng điểm, có tính chiến lược của Khu kinh tế; phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh của cụm cảng nước sâu Vũng Áng-Sơn Dương, Khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng.
Đẩy mạnh phát triển ba hành lang kinh tế: (1) Hành lang kinh tế đồng bằng ven biển cùng với Quốc lộ 1, cao tốc bắc-nam và Quốc lộ ven biển: Ưu tiên phát triển công nghiệp sản xuất thép và các sản phẩm sau thép, năng lượng, cảng biển, dịch vụ logistics; các trung tâm giáo dục đào tạo; cụm công nghệ cao; du lịch sinh thái, du lịch biển. (2) Hành lang kinh tế dọc Quốc lộ 8: Phát triển kinh tế cửa khẩu, công nghiệp chế biến và dịch vụ logistics, trọng tâm là Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo và các đô thị phía Bắc Hà Tĩnh, lấy công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp-thương mại-dịch vụ làm mũi nhọn. (3) Hành lang kinh tế trung du và miền núi phía Tây gắn với đường Hồ Chí Minh: Phát triển khu vực sinh thái hồ Ngàn Trươi, Vườn Quốc gia Vũ Quang và các đô thị Hương Khê, Vũ Quang; công nghiệp chế biến gỗ, chế biến nông sản; xây dựng thương hiệu sản phẩm của vùng và các trung tâm thương mại đầu mối để xuất khẩu sản phẩm địa phương.
Phát triển bốn ngành kinh tế trọng điểm, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, hướng tới chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn.
Phát triển công nghiệp xanh, sạch, theo chiều sâu, hiện đại, thân thiện với môi trường; ưu tiên các ngành có tiềm năng, lợi thế như sản xuất thép, điện, ô tô điện, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ xanh. Phát triển các ngành công nghiệp sau thép như chế tạo ô tô, chế tạo và sửa chữa tàu tốc độ cao, chế tạo máy móc, linh kiện, đóng và sửa chữa tàu biển. Đẩy nhanh triển khai các dự án năng lượng trọng điểm như điện khí, điện gió, điện mặt trời, điện rác, thủy điện, kho khí LNG và năng lượng tái tạo theo Quy hoạch điện VIII.
Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng tập trung, chuyên canh, hàng hóa quy mô lớn, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao gắn với tập trung tích tụ ruộng đất; ưu tiên phát triển các sản phẩm chủ lực, có lợi thế của tỉnh gắn với phát triển sản phẩm OCOP[63]. Phát triển nông nghiệp hiệu quả cao, hữu cơ, tuần hoàn, thông minh, áp dụng mô hình tín chỉ các-bon, giảm phát thải khí nhà kính và dịch vụ môi trường rừng, gắn với du lịch sinh thái. Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nhất là nông nghiệp công nghệ cao, hình thành các chuỗi liên kết sản xuất-tiêu thụ. Kiểm soát khai thác IUU, bảo vệ hệ sinh thái biển.
Phát triển dịch vụ logistics trở thành ngành kinh tế quan trọng, xây dựng Hà Tĩnh từng bước trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa, kho bãi của vùng và cả nước, hướng tới trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa quốc tế. Đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại cảng Vũng Áng-Sơn Dương theo quy hoạch; các trung tâm logistics, kho bãi với quy trình công nghệ quản lý thông minh; kết nối cảng biển, đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, cửa khẩu; kết nối hành lang kinh tế Đông-Tây, mở rộng thị trường sang Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan. Nghiên cứu, triển khai các tuyến xe buýt xanh như: Vũng Áng-Hà Tĩnh – Nghệ An, Vũng Áng-Quảng Trị; nâng cấp tuyến đường Quốc lộ 12C đoạn từ đường tránh Quốc lộ 1 đến đường Hồ Chí Minh.
Phát triển du lịch theo hướng tạo ra giá trị cạnh tranh khác biệt, trên cơ sở khai thác tổng hợp tài nguyên văn hóa, thiên nhiên, con người Hà Tĩnh. Hình thành các loại hình, sản phẩm du lịch đặc trưng, du lịch biển, sinh thái, du lịch trải nghiệm nông nghiệp, nông thôn, văn hóa, tín ngưỡng mang bản sắc mỗi địa phương và các di sản, danh nhân được UNESCO ghi danh; từng bước khắc phục tính mùa vụ trong hoạt động du lịch. Thu hút các nhà đầu tư chiến lược, dẫn dắt phát triển các dự án du lịch, dịch vụ quy mô lớn, có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa; phát triển Khu du lịch Thiên Cầm thành Khu du lịch Quốc gia. Từng bước xây dựng những sản phẩm du lịch thực tế ảo; số hóa các di tích, danh thắng. Mở rộng thị trường du lịch, trọng tâm là thị trường nội địa, tăng cường thu hút khách quốc tế; đẩy mạnh liên kết vùng để hình thành chuỗi giá trị du lịch liên tỉnh, nâng tầm hình ảnh Hà Tĩnh trên bản đồ du lịch khu vực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển, từng bước xây dựng đội ngũ làm du lịch có tư duy dịch vụ chuyên nghiệp, kỹ năng số và năng lực hội nhập quốc tế.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, trong đó tập trung hoàn thiện các quy hoạch khu vực ven biển, nâng cấp, mở rộng tuyến đường ven biển, hạ tầng cảng cá và dịch vụ hạ tầng nghề cá, hạ tầng các khu du lịch, đô thị ven biển, khu kinh tế Vũng Áng.
Phát triển ba vùng đô thị, lấy các đô thị hiện hữu phía Bắc, phía Nam và Trung tâm tỉnh làm hạt nhân, phát triển các đơn vị hành chính liền kề thành đô thị vệ tinh: (1) Vùng đô thị phía Bắc là các phường Nam Hồng Lĩnh, Bắc Hồng Lĩnh gắn với các xã Nghi Xuân, Tiên Điền, Đan Hải, phát triển Trung tâm đô thị theo hướng bờ Nam sông Lam, kết nối với các đô thị ở phía bờ Bắc sông Lam, hình thành trung tâm công nghiệp nhẹ và du lịch phía Bắc của tỉnh. (2) Vùng đô thị phía Nam là các phường Sông Trí, Vũng Áng, Hoành Sơn, Hải Ninh gắn với Khu Kinh tế Vũng Áng và các xã phụ cận, phát triển thành trung tâm công nghiệp, chế biến chế tạo, dịch vụ logistics, du lịch, cảng biển. (3) Vùng đô thị Trung tâm tỉnh là các Phường Thành Sen, Trần Phú, Hà Huy Tập và các xã phụ cận, hình thành trung tâm đô thị, thương mại-dịch vụ theo định hướng phát triển giao thông công cộng, trung tâm khoa học-đào tạo, hành chính của tỉnh.
2.3. Kiến tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế
Thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, khởi nghiệp; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Dành quỹ đất tại các khu, cụm công nghiệp cho các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Ưu tiên tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân, phát triển mô hình các quỹ tài chính, bảo lãnh tín dụng và quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; bố trí đủ nguồn lực cho các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Xây dựng quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp cởi mở, thân thiện, đồng hành; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát; chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo.
Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, số hóa, đơn giản hóa các thủ tục hành chính để thành lập mới, khuyến khích, hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển, xây dựng một số doanh nghiệp của tỉnh trở thành doanh nghiệp lớn, đóng vai trò đầu tàu, dẫn dắt các doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Đồng thời đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp, có chính sách thu hút các chuyên gia giỏi trong các ngành trọng điểm.
Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, hợp tác xã; khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh sang doanh nghiệp. Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài; ưu tiên các dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, có sức lan toả. Thu hút các doanh nghiệp, doanh nhân Hà Tĩnh trong và ngoài nước đầu tư và tham gia thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương.
2.4. Tập trung xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh
Tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; rà soát, điều chỉnh quy hoạch phù hợp với quy hoạch chung cấp xã; xác định phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, bảo tồn các giá trị văn hóa là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của xây dựng nông thôn mới. Nâng cao chất lượng các công trình phúc lợi; phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, câu lạc bộ văn nghệ dân gian; giải quyết hiệu quả các vấn đề về môi trường; tăng tỉ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch. Xây dựng nông thôn mới gắn với quá trình đô thị hóa, kết nối hạ tầng, thị trường tiêu thụ, thúc đẩy phát triển du lịch, nhất là du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, huy động nguồn lực phát triển hạ tầng và xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại.
2.5. Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đồng bộ; tăng cường thu hút đầu tư, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành, phát huy hiệu quả các dự án
Tập trung xây dựng các cơ chế tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển, khai thác các nguồn lực đầu tư mới ngoài ngân sách, phát huy vai trò của Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm của tỉnh, tạo nguồn lực từ quỹ đất, phục vụ thu hút đầu tư, triển khai đầu tư xây dựng Trung tâm hành chính tỉnh và các công trình hạ tầng chiến lược; đẩy mạnh hợp tác công-tư trong các dự án hạ tầng đô thị, giao thông, giáo dục và y tế, phù hợp với mô hình đầu tư công-quản trị tư. Tăng cường quản lý tài chính, ngân sách nhà nước theo hướng an toàn, bền vững, công khai, minh bạch; đổi mới công tác xây dựng và thực thi chính sách; nghiên cứu, ban hành chính sách mới đảm bảo tập trung, trọng điểm, tạo đột phá trong phát triển kinh tế-xã hội. Rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về ngân sách, đầu tư, đầu tư công. Đẩy mạnh phân cấp gắn với trách nhiệm người đứng đầu trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công. Đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng. Đổi mới mạnh mẽ hoạt động xúc tiến đầu tư, tăng cường xúc tiến đầu tư “tại chỗ”; phân vùng, lĩnh vực thu hút đầu tư để hình thành các cụm ngành phát triển tập trung theo chiều sâu, hiệu quả cao, có sức lan tỏa, đóng góp thực chất cho phát triển bền vững của tỉnh; kiên quyết thu hồi các dự án chậm tiến độ, vi phạm quy trình để tránh lãng phí nguồn lực.
Đổi mới tư duy trong phát triển xây dựng theo hướng hiện đại, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, vật liệu tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng, tạo các công trình kiến trúc điểm nhấn, bền vững với thời gian. Ưu tiên nguồn lực cho các ngành, lĩnh vực, địa bàn then chốt, các công trình, dự án trọng điểm có tính lan tỏa, tạo động lực phát triển. Huy động nguồn lực phát triển hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ với mạng lưới giao thông quốc gia, đặc biệt là kết nối với khu kinh tế Vũng Áng, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các khu du lịch, dịch vụ ven biển, các trung tâm logistics, hệ thống bến cảng Vũng Áng-Sơn Dương[64]; chủ động phối hợp đẩy nhanh tiến độ các tuyến giao thông chiến lược như đường sắt cao tốc bắc-nam, đường sắt Viêng Chăn-Vũng Áng, đường bộ cao tốc Vũng Áng-Cha Lo. Nâng cao chất lượng đô thị hóa; phát triển các đô thị trung tâm gắn với “ba hành lang kinh tế”, nhất là hành lang kinh tế gắn với đường bộ, đường sắt tốc độ cao bắc-nam, đường ven biển, kết nối các đô thị trung tâm của Bắc Quảng Trị, Nam Nghệ An theo mô hình đô thị ghép đôi-Twin City.
Tập trung hoàn thiện hạ tầng, thu hút đầu tư và tăng tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp mở rộng Khu Kinh tế Vũng Áng. Quan tâm đầu tư hạ tầng lĩnh vực văn hóa, thể thao, y tế, giáo dục và đào tạo, an sinh xã hội đáp ứng nhu cầu của Nhân dân. Đột phá về phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng số, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số. Phát triển hạ tầng thủy lợi theo hướng đa mục tiêu gắn với hạ tầng phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.
2.6. Tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu
Khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan, hệ sinh thái. Đẩy mạnh quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, hình thành các vùng nguyên liệu, dược liệu có giá trị gia tăng cao, phù hợp đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng của từng vùng. Tăng cường công tác điều tra, thăm dò và quản lý hoạt động khai thác khoáng sản. Khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước, biển và hải đảo gắn với bảo vệ đa dạng sinh học; phát huy giá trị các hồ, đập thủy lợi lớn, như hệ thống thủy lợi đa chức năng Ngàn Trươi-Cẩm Trang, Hồ Kẻ Gỗ phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, sản xuất điện và du lịch sinh thái. Chú trọng công tác phòng chống lũ, nhất là các vùng thượng nguồn. Ứng dụng công nghệ và kỹ thuật hiện đại trong đánh giá, khai thác, chế biến tài nguyên, bảo vệ và phục hồi môi trường theo định hướng phát triển bền vững, xanh, tuần hoàn và các-bon thấp. Giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.
Khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan, hệ sinh thái.
Tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành Trung ương để giải quyết các thủ tục xử lý Dự án khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê theo Kết luận của Bộ Chính trị. Xây dựng phương án phát triển kinh tế-xã hội phù hợp, đảm bảo ổn định đời sống, hoạt động sản xuất của người dân, đồng thời không làm ảnh hưởng đến tài nguyên khoáng sản đã được quy hoạch.
Xây dựng đồng bộ hệ thống phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải theo hướng công nghệ hiện đại, tăng tỷ lệ tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng từ chất thải, giảm phát thải; kiểm kê, quản lý, giám sát chặt chẽ các nguồn thải, đặc biệt là ở các khu kinh tế, khu công nghiệp. Tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 19/11/2020 của Tỉnh ủy về phòng ngừa, ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
2.7. Đột phá ứng dụng khoa học-công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số trên các lĩnh vực
Tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhóm nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ưu tiên nguồn lực đầu tư, hoàn thiện hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phấn đấu hoàn thành 100% khung kiến trúc chính quyền số Hà Tĩnh phiên bản 4.0 trước năm 2027; nâng tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến đạt trên 80%. Nâng cao năng lực Trung tâm Khoa học Công nghệ và Chuyển đổi số, Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng, xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm và các trạm nghiên cứu, thực nghiệm phục vụ sản xuất các sản phẩm công nghệ sinh học. Nghiên cứu phát triển Tổ hợp công nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo (Hà Tĩnh Innovation Park). Ứng dụng hiệu quả trí tuệ nhân tạo (AI) vào công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, trang bị kiến thức và kỹ năng số cho cán bộ, đảng viên và người dân; thực hiện tốt phong trào “Bình dân học vụ số”, “học tập số”; phát huy vai trò tổ chuyển đổi số cộng đồng.
Phát triển tài sản trí tuệ, sáng chế, giải pháp hữu ích và áp dụng các công cụ quản lý hiện đại nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng trong các ngành, lĩnh vực chủ lực như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, tài chính, giáo dục, y tế, giao thông, xây dựng, logistics, vật liệu mới, văn hóa, du lịch. Thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp, kết nối chặt chẽ cơ sở nghiên cứu với cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học, các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; áp dụng linh hoạt hình thức hợp đồng thực hiện nhiệm vụ công chức và các cơ chế, chính sách đủ hấp dẫn nhằm phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài tham gia hoạch định và thực thi các nhiệm vụ chiến lược của tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
2.8. Tiếp tục phát huy các giá trị văn hóa, con người Hà Tĩnh trong giai đoạn mới; thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân; giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội
Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 18-NQ/TU, ngày 22/12/2023 của Tỉnh ủy về xây dựng, phát triển văn hóa và con người Hà Tĩnh trong giai đoạn mới. Xây dựng nền văn hóa giàu bản sắc, tiếp thu chọn lọc các giá trị tiên tiến, trở thành nền tảng và động lực phát triển. Phát huy trí tuệ, đóng góp của người Hà Tĩnh trong nước và ngoài nước. Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; hình thành các khu dân cư tự quản, đoàn kết, ấm no, hạnh phúc, gia đình văn hóa. Bảo tồn, phát huy các loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian, lễ hội truyền thống và di sản văn hóa của Danh nhân văn hóa thế giới Lê Hữu Trác, Nguyễn Du. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, khai thác các giá trị văn hoá. Phát triển văn học nghệ thuật tương xứng với tiềm năng và truyền thống Hà Tĩnh. Phát triển phong trào thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao ở những môn có thế mạnh[65]. Đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa-thể thao, điện ảnh; đẩy nhanh tiến độ các dự án xây dựng Bảo tàng, Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống; trùng tu, tôn tạo khu di tích Trần Phú, Hà Huy Tập.
Thực hiện các chính sách đột phá về giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; chú trọng giáo dục đức, trí, thể, mỹ, triển khai dạy học 2 buổi/ngày ở tiểu học và trung học, tăng cường giáo dục văn hóa, nghệ thuật, kỹ năng sống, kỹ năng số, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI, phát triển hệ sinh thái giáo dục số, trường học số, lớp học thông minh; củng cố, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục; quan tâm công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập gắn với Phong trào “Bình dân học vụ số”, “Học tập số”. Phát triển giáo dục ngoài công lập, giáo dục chất lượng cao; đẩy mạnh phân luồng, hướng nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, góp phần tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo. Triển khai có hiệu quả chủ trương xây dựng trường phổ thông liên cấp nội trú tại các xã biên giới; tập trung xây dựng trường đạt chuẩn. Quan tâm đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động của Trường Chính trị Trần Phú, Trường nghề chất lượng cao, Trường Cao đẳng Kỹ thuật Việt-Đức; nghiên cứu đổi mới mô hình, nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Hà Tĩnh, Trường trung học phổ thông Chuyên Hà Tĩnh. Đẩy mạnh liên kết giữa doanh nghiệp-nhà trường trong đào tạo nghề và tuyển dụng sau đào tạo. Quan tâm đào tạo nhân lực cho nước bạn Lào.
Triển khai Chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân; thực hiện đồng bộ các giải pháp theo tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, lấy y tế dự phòng, y tế cơ sở làm nền tảng; triển khai khám sức khỏe định kỳ hàng năm cho người dân, lập sổ sức khỏe điện tử toàn dân; nâng cao tuổi thọ và số năm sống khỏe mạnh. Quan tâm đào tạo, đãi ngộ, thu hút nhân lực y tế, nhất là tuyến cơ sở, vùng khó khăn; chú trọng xây dựng đội ngũ bác sĩ, chuyên gia giỏi của quê hương Hà Tĩnh. Luân phiên, luân chuyển, điều động bác sĩ về làm việc có thời hạn tại trạm y tế cấp xã. Tăng cường đầu tư nâng cấp bệnh viện công, phát huy hiệu quả bệnh viện vệ tinh, thu hút bệnh viện tư nhân chất lượng cao, xây dựng hệ thống cấp cứu ngoại viện. Phát triển y tế cơ sở phù hợp mô hình chính quyền hai cấp, đảm bảo chăm sóc sức khỏe ban đầu, quản lý bệnh mãn tính, phát hiện và điều trị sớm cho Nhân dân. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và khám, chữa bệnh; hợp tác chuyên môn với các bệnh viện lớn của Trung ương. Đảm bảo an ninh, an toàn thực phẩm; thực hiện tốt chính sách dân số và phát triển.
Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội hóa chăm lo người yếu thế, phát triển hệ thống các cơ sở trợ giúp xã hội. Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, hoàn thành bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân. Phát triển thị trường lao động đồng bộ, linh hoạt phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực hiện hiệu quả chương trình giảm nghèo, bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội, đảm bảo an sinh cho mọi người dân.
2.9. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật
Tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 12-NQ/TU, ngày 26/5/2022 về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, gắn với chương trình tổng thể cải cách hành chính. Lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm; thúc đẩy đổi mới sáng tạo quản trị công. Đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa nền hành chính; nâng cao chất lượng trung tâm hành chính công các cấp, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Tiếp tục duy trì, cải thiện và nâng cao các chỉ số PAR Index, PCI, PAPI, DTI. Thực hiện hiệu quả Đề án 06 của Chính phủ, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trên địa bàn.
Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành theo hướng bám sát nguyên tắc, linh hoạt trong xử lý, thực chất, bám sát thực tiễn. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao đạo đức công vụ, gắn trách nhiệm người đứng đầu. Thực hiện phân cấp hợp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả công việc và tinh thần thái độ phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức.
Tập trung triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị; xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh đồng bộ, minh bạch, khả thi, có cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, bảo đảm hoạt động liên tục, hiệu quả của bộ máy sau sắp xếp tổ chức. Chủ động tháo gỡ vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, tạo hành lang pháp lý cho phát triển. Tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển mới, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đầu tư và kinh doanh.
3. Lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại
3.1. Đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội
Quán triệt, triển khai đồng bộ các chủ trương, nghị quyết, chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Gắn phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân vững chắc. Tăng cường sức mạnh quốc phòng, phòng thủ dân sự, ứng phó hiệu quả với các tình huống xảy ra trên địa bàn và hỗ trợ các địa phương khác khi có yêu cầu của Trung ương.
Quán triệt, triển khai đồng bộ các chủ trương, nghị quyết, chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng lực lượng vũ trang “tinh, gọn, mạnh”, phát huy phẩm chất “Bộ đội cụ Hồ”, “lực lượng Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Thực hiện hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng, an ninh, tuyển quân, tuyển sinh và chính sách hậu phương quân đội. Tổ chức thành công các cuộc diễn tập; tăng cường đối ngoại quốc phòng, kiểm soát chặt chẽ biên giới, cửa khẩu, cảng biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, biển đảo.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 12-NQ/TW năm 2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ tuyệt đối an toàn các sự kiện chính trị quan trọng. Kiên quyết đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm công nghệ cao, xuyên quốc gia, có tổ chức, có vũ trang. Quán triệt thực hiện Kết luận số 132-KL/TW năm 2025 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh trật tự, đảm bảo an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ. Quan tâm đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm cho thanh niên xuất ngũ. Đẩy mạnh hợp tác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với các tỉnh của Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào góp phần giữ vững an ninh biên giới và tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào.
3.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại; tích cực hội nhập quốc tế
Tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Đẩy mạnh hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh và các tỉnh của Hiệp hội 09 tỉnh 03 nước Việt Nam-Lào-Thái Lan có sử dụng đường 8, đường 12, các nước trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC); mở rộng quan hệ hợp tác với các tỉnh của Lào, Nhật Bản, Nga, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Đức, Slovakia; các tổ chức quốc tế như WB, ADB, AFD, đại sứ quán các nước tại Việt Nam. Xây dựng và triển khai hiệu quả chương trình xúc tiến đầu tư hàng năm, tập trung nâng cao chất lượng thu hút đầu tư FDI, đặc biệt các dự án đầu tư lớn, công nghệ cao, tiên tiến; huy động nguồn lực quốc tế thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; tăng cường vai trò cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội doanh nghiệp trong kết nối với doanh nghiệp quốc tế. Thúc đẩy triển khai hiệu quả các Hiệp định, Nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào về hợp tác đầu tư phát triển Bến cảng Vũng Áng 1, 2, 3, dự án đường sắt Viêng Chăn-Vũng Áng, cao tốc Vũng Áng-Cha Lo.
Đẩy mạnh công tác đối ngoại, lãnh sự, bảo hộ công dân; tăng cường kết nối, phát huy nguồn lực kiều bào Hà Tĩnh ở nước ngoài. Tích cực vận động nguồn vốn ODA, NGO phục vụ đầu tư hạ tầng, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, thích ứng biến đổi khí hậu. Đổi mới công tác thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh, tiềm năng Hà Tĩnh ra khu vực và thế giới, tạo điều kiện để doanh nghiệp, sản phẩm Hà Tĩnh vươn ra thị trường khu vực, quốc tế.
*
* *
Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân tỉnh nhà tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, giá trị văn hóa đặc sắc và khát vọng vươn lên của người Hà Tĩnh; tăng cường đoàn kết, chung sức, đồng lòng, nắm bắt thời cơ, vận hội, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo động lực mới, quyết tâm xây dựng tỉnh Hà Tĩnh phát triển nhanh, bền vững theo hướng công nghiệp hiện đại, tăng trưởng xanh, góp phần cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh và thịnh vượng của dân tộc Việt Nam.
-------------------------------
[1] Trong nhiệm kỳ 2020-2025, Tỉnh ủy đã ban hành 19 nghị quyết trên các lĩnh vực.
[2] Trung tâm chính trị cấp huyện mở được 5.102 lớp với 764.036 lượt người học, trong đó có 58 lớp sơ cấp chính trị, 287 lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng, 166 lớp Đảng viên mới và hàng ngàn lớp chuyên đề. Trường chính trị Trần Phú mở 153 lớp, với 10.276 học viên, trong đó: 71 lớp Trung cấp chính trị; 06 lớp Cao cấp lý luận chính trị; 11 lớp bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng; 65 lớp bồi dưỡng theo chức danh và theo ngạch.
[3] Toàn tỉnh đã tổ chức hơn 1.000 buổi sinh hoạt chuyên đề với hơn 90.000 lượt cán bộ, đảng viên tham gia.
[4] Cấp tỉnh tổ chức 31 hội nghị báo cáo viên, kết nối 35 Hội nghị báo cáo viên Trung ương trực tuyến; cấp huyện tổ chức hơn 1.000 hội nghị báo cáo viên, hội nghị chuyên đề.
[5] Trong nhiệm kỳ 2020-2025, toàn tỉnh vinh danh 3.845 gương điển hình tiên tiến (1.180 tập thể, 2.665 cá nhân).
[6] Giai đoạn 2020-2024: Khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội cấp tỉnh giảm 17 phòng, ban chuyên môn. Khối chính quyền địa phương giảm 36 phòng chuyên môn và chi cục thuộc các ban, sở, ngành cấp tỉnh, giảm 143 đơn vị sự nghiệp công lập.
Năm 2025: Kết thúc hoạt động các đảng đoàn, ban cán sự đảng; kết thúc hoạt động Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh; thành lập 02 đảng bộ mới trực thuộc Tỉnh ủy. Hợp nhất Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Ban Dân vận Tỉnh ủy; Báo Hà Tĩnh và Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh. Kết thúc hoạt động của Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh, thành lập Trung tâm Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh. Kết thúc hoạt động của 16 ban chỉ đạo do Tỉnh ủy thành lập. Thành lập mới 05 Sở theo định hướng của Trung ương. Thực hiện sắp xếp các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh...
[7] Năm 2025, toàn hệ thống chính trị được giao 28.295 biên chế, giảm 1.831 biên chế so với năm 2020.
[8] Tính đến ngày 01/9/2025, Đảng bộ có 73 đảng bộ trực thuộc (69 đảng bộ xã, phường và 04 đảng bộ cơ quan, đơn vị), 3.222 tổ chức đảng (đảng bộ cơ sở 197; chi bộ cơ sở 400; chi bộ trực thuộc 2.625); chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở 1.134. Thành lập 100% chi bộ quân sự xã, phường.
[9] Nhiệm kỳ 2020-2025, toàn Đảng bộ kết nạp được 10.359 đảng viên (trong đó có 6.402 nữ, 32 người dân tộc thiểu số, 44 người theo tôn giáo, 14 chủ doanh nghiệp tư nhân, 2.651 học sinh, sinh viên).
[10] Nhiệm kỳ 2020-2025 thực hiện việc rà soát, sàng lọc đưa ra khỏi Đảng 899 đảng viên không đủ tư cách.
[11] Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU, ngày 28/8/2023 về đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới; Quy định số 17-QĐ/TU, ngày 02/6/2023 về việc đánh giá, xếp loại chất lượng sinh hoạt chi bộ.
[12] Tổng số cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đã điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu ứng cử, luân chuyển từ đầu nhiệm kỳ đến nay: 281 lượt cán bộ.
[13] Cấp tỉnh: cử 147 lượt cán bộ tham gia các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng; cấp huyện: cử 11 đồng chí tham gia các lớp đào tạo nâng cao chuyên môn, 253 đồng chí tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ.
[14] Nhiệm kỳ 2020-2025, toàn tỉnh tuyển dụng 128 công chức, viên chức (trong đó có 55 công chức, viên chức theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP).
[15] Các cấp ủy đã kiểm tra 4.213 lượt tổ chức đảng và 5.535 lượt đảng viên; giám sát theo chuyên đề 3.018 lượt đảng viên và 2.160 lượt tổ chức đảng. Ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra 727 đảng viên và 154 tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm; giám sát theo chuyên đề 2.428 lượt đảng viên và 2.060 lượt tổ chức đảng; kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập đối với 668 cán bộ, đảng viên diện cấp ủy cùng cấp quản lý. Đã thi hành kỷ luật 43 tổ chức đảng, với các hình thức: khiển trách 39, cảnh cáo 04 và 3.483 đảng viên (trong đó có 289 đồng chí là cấp ủy viên các cấp) với các hình thức: khiển trách 3.075, cảnh cáo 462, cách chức 53, khai trừ 55.
[16] Toàn tỉnh đã tổ chức 1.970 hội nghị đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với Nhân dân, trong đó: cấp tỉnh 15 cuộc, cấp huyện 189 cuộc, cấp xã 1.766 cuộc; tiếp nhận 27.883 ý kiến của Nhân dân, tỷ lệ giải quyết đạt 97,2%.
[17] Có 11.125 mô hình dân vận khéo, trong đó 4.786 mô hình trên lĩnh vực phát triển kinh tế, 2.390 mô hình trên lĩnh vực văn hóa-xã hội, 1.862 mô hình trên lĩnh vực quốc phòng-an ninh, 1.352 mô hình trên lĩnh vực xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
[18] Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành 48 nghị quyết, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 100 quyết định quy phạm pháp luật, bao gồm các cơ chế, chính sách huy động nguồn lực, quản lý đầu tư (đầu tư công và đầu tư của doanh nghiệp) hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
[19] Như: Điện mặt trời Cẩm Hòa (60MW), Điện mặt trời Cẩm Hưng (28MW), Trang trại điện gió HBRE (120 MW), phát triển điện mặt trời áp mái.
[20] Chủ trương chấm dứt dự án mỏ sắt Thạch Khê nhận được sự đồng tình của các bộ, ngành Trung ương; tháo gỡ vướng mắc, khởi công dự án Nhiệt điện Vũng Áng II; GPMB tuyến đường dây 500kV, cao tốc Bắc Nam; KCN Phú Vinh, KCN Hoành Sơn; giải quyết cấp đất Tòa Giám mục; các dự án vướng mắc Nghị định 148; các vụ việc tồn đọng, tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo liên quan đến Nhà máy rác Hương Khê, thủy lợi Nam Hà Tĩnh...
[21] Một số mô hình hữu cơ, tuần hoàn như: Nuôi tôm ứng dụng công nghệ vi sinh, chăn nuôi lợn hữu cơ an toàn sinh học, trồng cam theo hướng hữu cơ...
[22] Toàn tỉnh hiện có 297 sản phẩm đạt chuẩn OCOP, trong đó có 279 sản phẩm đạt 3 sao, 18 sản phẩm 4 sao.
[23] Năm 2019 (trước Covid-19): 3,85 triệu lượt; năm 2020: 0,8 triệu lượt; năm 2021: 0,52 triệu lượt; năm 2022: 1,6 triệu lượt; năm 2023: 3,4 triệu lượt; năm 2024: 6,5 triệu lượt; năm 2025: 7,3 triệu lượt.
[24] Hiện toàn tỉnh có hơn 13.000 doanh nghiệp, ĐVTT, bình quân đạt 98 doanh nghiệp, ĐVTT/1 vạn dân (đầu nhiệm kỳ 79 DN/1 vạn dân); đóng góp khoảng 60% GRDP toàn tỉnh và 65% thu ngân sách toàn tỉnh; giải quyết việc làm cho 98.000 lao động.
[25] Giai đoạn 2021-2025, thị xã Kỳ Anh tăng trưởng kinh tế 8,5%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội hơn 100.000 tỷ đồng, thu ngân sách gần 11.000 tỷ đồng, gấp 1,3 lần cùng kỳ; thành phố Hà Tĩnh tăng trưởng kinh tế gần 11%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội 35.000 tỷ đồng, thu ngân sách đạt 6.250 tỷ đồng, gấp 1,5 lần; thị xã Hồng Lĩnh tăng trưởng gần 9%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội 8.000 tỷ đồng, vốn đầu tư toàn xã hội 8.000 tỷ đồng, thu ngân sách gần 2.000 tỷ đồng, gấp 2,7 lần. Khu kinh tế Vũng Áng đóng góp khoảng 25% tăng trưởng GRDP, hơn 95% kim ngạch xuất nhập khẩu, 60% tổng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho hơn 20.000 lao động; một số sản phẩm công nghiệp chủ lực như thép đóng góp 18% sản lượng cả nước, điện đóng góp hơn 3% sản lượng cả nước.
[26] Năm 2022: ký kết hợp tác giữa 3 tỉnh Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh; ký kết thỏa thuận liên kết phát triển du lịch giữa thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Bắc Trung Bộ. Năm 2023; ký kết hợp tác giữa Thành phố Hồ Chí Minh và 6 tỉnh Bắc Trung Bộ; ký kết hợp tác với tỉnh Hưng Yên. Tổ chức làm việc, trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh Bình Dương, Hải Phòng, Ninh Bình, Bình Định...
[27] Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) xếp 34/63 cả nước; chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) xếp thứ 25/63 cả nước, tăng 34 bậc so với đầu nhiệm kỳ; chỉ số tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt trên 23%; năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt 33,5%.
[28] Với 3.250 trạm BTS 3G, 4G phủ sóng 99% khu vực dân cư, mạng 5G được thương mại hóa, chính quyền số, kinh tế số, xã hội số được triển khai theo lộ trình.
[29] Là tỉnh thứ hai cả nước hoàn thành cấp căn cước cho công dân, tỉnh thứ tư cả nước hoàn thành chỉ tiêu kích hoạt tài khoản định danh điện tử; xếp thứ 3 toàn quốc về công tác duy trì dữ liệu đảm bảo “đúng, đủ, sạch, sống”.
[30] Tỷ lệ chất thải rắn được phân loại, thu gom, xử lý đạt 95%.
[31] Xây dựng 109 nhà văn hóa thôn, 105 nhà văn hóa cộng đồng kết hợp tránh lũ, 24 nhà tránh lũ cho người dân. Đầu tư nâng cấp, sửa chữa 7 tuyến đê, 29 tuyến kè, 22 hồ chứa. Triển khai các Dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị tại Thạch Hà, Hương Khê (59 triệu EUR, nguồn vốn AFD), Dự án phát triển đô thị Kỳ Anh (55 triệu USD, nguồn vốn WB), Dự án hạ tầng thành phố Hà Tĩnh (142 triệu USD, nguồn vốn ADB), Dự án Tăng cường khả năng thoát lũ hạ du hồ Kẻ Gỗ tại tỉnh Hà Tĩnh.
[32] Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu, Danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được UNESCO ghi danh; có thêm 11 bảo vật, di tích, di sản được công nhận cấp quốc gia; triển khai xây dựng, trùng tu, tôn tạo Khu lưu niệm Tổng Bí thư Trần Phú và Khu lưu niệm Tổng Bí thư Hà Huy Tập.
[33] Đến nay, toàn tỉnh có 95,08% gia đình văn hóa, 98,57% thôn, tổ dân phố văn hóa.
[34] Trung bình hằng năm đạt từ 170 -200 huy chương các loại; nhiều VĐV đạt Huy chương thế giới, châu lục như Nguyễn Lê Quỳnh Chi HCV giải vô địch Pencak Silat thế giới, giải Pencak Silat châu Á; Hoàng Thị Mỹ Tâm HCV, giải vô địch Karatedo châu Á...
[35] Tỷ lệ người dân tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt 35,7%, số gia đình thể thao đạt 25,6%.
[36] Toàn tỉnh có 10.684 phòng học, đảm bảo tối thiểu 01 phòng/lớp, số phòng học kiên cố 10.318 phòng (tỷ lệ 96,6%). Có 561 trường/640 trường công lập trong toàn tỉnh đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 87,66%), trong đó chuẩn mức 1 có 275 trường (Mầm non: 97 trường, Tiểu học: 64 trường, THCS: 88 trường, THPT: 26 trường); chuẩn mức 2 có 286 trường (Mầm non: 104 trường, Tiểu học: 130 trường, THCS: 49 trường, THPT: 3 trường).
[37] Có 393 học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia; Huy chương Vàng Olympic Quốc tế môn Hóa học (năm 2022, 2023), Huy chương Vàng, Bạc Olympic Quốc tế môn Toán (2024, 2025).
[38] Đến nay, đã hỗ trợ 430 em, trung bình 100-150 triệu đồng/em trong 4-5 năm học.
[39] Dự kiến cuối năm 2025 có 13 bác sĩ/vạn dân, 33,6 giường bệnh/1 vạn dân; tỷ lệ hài lòng của người bệnh đạt trên 97%; giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi từ 14,1% xuống còn 13,4%.
[40] Hỗ trợ gần 252 nghìn đối tượng với tổng kinh phí gần 262 tỷ đồng.
[41] Đến cuối năm 2025, tỷ lệ lao động trong độ tuổi tham gia BHXH đạt 31,8%, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95%.
[42] Cơ cấu lao động năm 2025: nông nghiệp 27%, công nghiệp 30%, dịch vụ 43% (năm 2020: nông nghiệp 51%, công nghiệp 19%, dịch vụ 30%).
[43] Giải thể Ban Thanh tra Quốc phòng thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, 12 ban chỉ huy quân sự cấp huyện, thành lập 03 ban chỉ huy phòng thủ khu vực; sáp nhập Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh để thành lập Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng trực thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh.
[44] Tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ: 01 lượt cấp tỉnh, 13 lượt cấp huyện, 216 lượt cấp xã; 1 lượt diễn tập ứng phó bức xạ hạt nhân; 03 lượt diễn tập phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
[45] Đứng đầu cả nước về tỷ lệ người nhận hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội hàng tháng qua tài khoản cá nhân, là một trong các địa phương đầu tiên trong cả nước hoàn thành chỉ tiêu cấp thẻ Căn cước công dân và tài khoản định danh cho công dân đủ điều kiện trên địa bàn.
[46] Trong nhiệm kỳ đã vận động, xúc tiến 02 dự án ODA tổng mức 190 triệu đô la Mỹ (4.780 tỷ đồng) và 28 dự án NGO tổng mức 2,5 triệu đô la Mỹ (63 tỷ đồng).
[47] Chính sách về thực hiện Đề án thí điểm tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới; tập trung, tích tụ ruộng đất; chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn và cơ chế xây dựng nông thôn mới.
[48] Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, toàn tỉnh làm được 1.560 km đường giao thông, 290 km rãnh thoát nước; bê tông hóa, nhựa hóa hơn 900 km đường giao thông nông thôn các loại; kiên cố hóa 332 km kênh mương nội đồng; xây mới 02 trường học, 424 phòng học, 37 nhà đa năng; đầu tư, nâng cấp 67 trạm y tế; xây mới, nâng cấp 14 nhà văn hóa xã, 12 khu thể thao xã, 109 nhà văn hóa thôn, 105 nhà văn hóa cộng đồng kết hợp tránh lũ...
[49] Thu nhập của người dân nông thôn đạt khoảng 49 triệu đồng/người/năm.
[50] Các khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng, VSIP, Gia Lách mở rộng.
[51] Nhiệm kỳ 2020-2025 đã tuyển dụng 55 công chức, viên chức theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP, trong đó có 30 em là sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, 25 cán bộ khoa học trẻ.
[52] Đã bố trí gần 3.000 tỷ đồng đầu tư phát triển hạ tầng tại Khu kinh tế Vũng Áng.
[53] Các nhà máy sản xuất pin, KCN Vinhomes, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II, Nhà máy sản xuất ô tô điện Vinfast...
[54] Chỉ tiêu kết nạp 2.500 đảng viên/năm. Kết quả: trung bình mỗi năm kết nạp được 2.071 đảng viên (gần 2,1%/năm).
[55] Còn 6 thôn chưa có chi bộ, 15 chi bộ sinh hoạt ghép.
[56] Sản xuất thép của Formosa bình quân giai đoạn 2021-2025 chỉ tăng 0,72%/năm. Tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I gặp sự cố phải ngừng hoạt động từ tháng 9/2021 đến quý IV/2023, sản lượng đạt 5 tỷ kWh/năm, bình quân giai đoạn 2021-2025 giảm 2,48%/năm.
[57] Tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp đạt 46%, cụm công nghiệp đạt 58%.
[58] Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020-2025 đề ra 29 chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng an ninh giai đoạn 2021-2025, trong đó đánh giá 25 chỉ tiêu (4 chỉ tiêu không đánh giá do đã hết hiệu lực theo quy định của Trung ương). Dự kiến đến hết năm 2025 có 14/25 chỉ tiêu dự kiến đạt và vượt (10 chỉ tiêu vượt, 4 chỉ tiêu đạt), 11/25 chỉ tiêu dự kiến không đạt.
[59] 05 di sản được UNESCO vinh danh: Ca trù, Dân ca ví-giặm Nghệ Tĩnh, Mộc bản trường học Phúc Giang, Hoàng hoa sứ trình đồ, Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu; 02 danh nhân văn hóa thế giới: Đại thi hào Nguyễn Du, Danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
[60] Đáp ứng nhu cầu của tỉnh về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhu cầu cho các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn như: các nhà máy (ô tô điện Vinfast, điện khí LNG Vũng Áng III, kho khí LNG, thép không gỉ), các khu công nghiệp (VSIP, Vinhomes Vũng Áng, Gia Lách mở rộng)...
[61] Thúc đẩy triển khai hiệu quả các Hiệp định, Nghị định thư và Nghị định thư sửa đổi giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào về hợp tác đầu tư phát triển Bến cảng 1,2,3 của Cảng Vũng Áng; đề xuất đầu tư dự án Đường sắt Mụ Giạ-Vũng Áng, cao tốc Vũng Áng-Cha Lo.
[62] Theo Quyết định số 892/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển cụm liên kết ngành kinh tế biển gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế biển mạnh đến năm 2030.
[63] Nhóm sản phẩm thuộc danh mục chủ lực quốc gia (tôm, thịt lợn, gia cầm, gỗ và các sản phẩm từ gỗ); nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh (cam chanh chất lượng cao, bưởi Phúc Trạch, chè công nghiệp, nhung hươu, lúa gạo chất lượng cao) và nhóm sản phẩm chủ lực đặc sản, có giá trị cá biệt cấp vùng, miền, địa phương.
[64] Nâng cấp tuyến đường Quốc lộ 12C đoạn từ đường tránh Quốc lộ 1 đến đường Hồ Chí Minh; Nâng cấp, mở rộng một số tuyến Quốc lộ 1 và tuyến tránh Quốc lộ 1 đoạn qua địa bàn tỉnh; Hệ thống tách nước, phân lũ, phòng chống ngập úng Khu Kinh tế Vũng Áng; Xây dựng Tuyến đường kết nối tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh qua cầu Bến Thủy 3; Nâng cấp, mở rộng tuyến đường ven biển tỉnh Hà Tĩnh; Xây dựng tuyến đường tỉnh ĐT.553 đoạn từ Km17+530-Km39+030; Đường Xô Viết Nghệ Tĩnh kéo dài về phía Tây và tuyến nối đường Ngô Quyền kéo dài-Hàm Nghi; Các dự án đầu tư hạ tầng phục vụ khai thác, phát triển quỹ đất tỉnh,…
[65] Điền kinh, karate, đua thuyền, bóng chuyền...




