Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 diễn ra trong bối cảnh cả nước nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng có nhiều thời cơ, thuận lợi, đan xen khó khăn, thách thức. Với phương châm “Đoàn kết-Dân chủ-Kỷ cương-Đột phá-Phát triển”, Đại hội quyết tâm lãnh đạo hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện khát vọng xây dựng tỉnh Đắk Lắk phát triển nhanh, bền vững, văn minh, bản sắc, cùng cả nước vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025, trong bối cảnh có nhiều thời cơ, thuận lợi, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; thể chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện; tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị được sắp xếp tinh, gọn, hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả; các khâu đột phá chiến lược và các động lực tăng trưởng được thúc đẩy; chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo có bước tiến mới… Tuy nhiên, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường, tác động của đại dịch COVID-19, sự điều chỉnh chính sách thuế, tài chính của các nước lớn; giá cả vật tư, nguyên liệu đầu vào tăng cao, trong khi giá một số nông sản chủ lực của tỉnh chưa đạt như kỳ vọng; thời tiết diễn biến bất thường đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển của tỉnh… Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Trung ương, sự quan tâm, hỗ trợ của các bộ, ngành Trung ương và các tổ chức, cá nhân, toàn Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy truyền thống cách mạng, thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, đoàn kết, quyết tâm, nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2020-2025 của Đảng bộ tỉnh đạt được những kết quả quan trọng, tương đối toàn diện trên các lĩnh vực.
I- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1. Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị
Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức được tăng cường, triển khai chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả hơn, tạo nền tảng vững chắc trong xây dựng Đảng. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, định hướng công tác dư luận xã hội trước các sự kiện chính trị trọng đại, những vấn đề nóng, nhạy cảm được triển khai kịp thời, tạo được sự đồng thuận, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Có nhiều đổi mới trong công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được cấp ủy, chính quyền các cấp thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị được đổi mới cả về nội dung và phương pháp. Việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được triển khai sâu rộng, thiết thực và hiệu quả. Các cấp ủy, tổ chức đảng nghiêm túc chỉ đạo, thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII), Kết luận số 21-KL/TW (khóa XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.
Công tác dân vận của hệ thống chính trị có nhiều đổi mới, góp phần tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Công tác dân vận chính quyền được chú trọng; nhiều chủ trương dân vận, chương trình phối hợp được triển khai đạt kết quả tích cực. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được triển khai thực hiện hiệu quả; công tác tiếp dân, đối thoại với dân ngày càng thực hiện nền nếp, thường xuyên, qua đó kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị chính đáng của Nhân dân.
Phong trào thi đua “Dân vận khéo” tiếp tục được đẩy mạnh, huy động được trí tuệ, sức sáng tạo và nguồn lực trong Nhân dân với hàng nghìn mô hình, điển hình hoạt động hiệu quả và có sức lan tỏa sâu rộng. Các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo, nhất là trong xây dựng, phát huy vai trò của người có uy tín, lực lượng cốt cán được quan tâm, tập trung triển khai thực hiện, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
Lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các mặt công tác tổ chức xây dựng đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện tốt việc cải tiến phương pháp, lề lối làm việc, đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng phát huy dân chủ, bảo đảm khoa học, chủ động, quyết liệt. Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện chặt chẽ, có hiệu quả các khâu trong công tác cán bộ. Công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên được quan tâm thực hiện. Công tác chính sách cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, đúng quy định. Đặc biệt, công tác tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và các kết luận của Trung ương về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, xây dựng hệ thống chính quyền 2 cấp trên địa bàn tỉnh đã được triển khai bài bản, quyết liệt, đạt kết quả tích cực. Đến nay, hệ thống chính trị của tỉnh, các xã, phường đã đi vào hoạt động ổn định, thông suốt, bảo đảm gần dân, sát dân, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được triển khai chủ động, kịp thời, nghiêm túc, chặt chẽ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, chất lượng, hiệu quả được nâng lên, là động lực để phát triển kinh tế-xã hội. Công tác kiểm tra, giám sát có nhiều đổi mới, chủ động kiểm tra, đi trước làm rõ nhiều vụ việc, tiến hành theo hướng tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, chú trọng kiểm tra, giám sát trách nhiệm lãnh đạo, điều hành, quản lý đối với đảng viên là cán bộ chủ chốt, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy, các địa phương, cơ quan, đơn vị ở các địa bàn, lĩnh vực nổi cộm, có nhiều dư luận, dễ phát sinh nhiều sai phạm. Đồng thời, tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, không có vùng cấm trong xem xét, xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm; công tác giám sát bên cạnh mục đích phòng ngừa sai phạm, phục vụ công tác sơ, tổng kết, còn để đôn đốc các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Công tác giải quyết tố cáo đảng viên được thực hiện đúng quy định của Đảng.
Công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách tư pháp được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, toàn diện. Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được phối hợp chặt chẽ, hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm; công tác thanh tra được các cơ quan, đơn vị, địa phương quan tâm thực hiện; tập trung cụ thể hóa và đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp phù hợp thực tiễn địa phương. Tăng cường công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án kinh tế, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực bảo đảm nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật. Việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tiếp công dân, hoạt động đối thoại trực tiếp để giải quyết các vấn đề vướng mắc trong Nhân dân được chú trọng thực hiện.
Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới. Phong cách, phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có nhiều đổi mới, bảo đảm sự lãnh đạo vừa toàn diện, vừa sâu sát; thường xuyên đổi mới lề lối làm việc gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết hiệu quả các vấn đề bức xúc ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Công tác xây dựng, ban hành văn bản của Tỉnh ủy bảo đảm nguyên tắc theo quy định. Nguyên tắc hoạt động và mối quan hệ công tác của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy đối với HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội tỉnh đã được cụ thể hóa trong Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.
Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy và hoạt động của HĐND, UBND các cấp trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ được nâng lên. Đã tập trung chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức, khắc phục được tình trạng chồng chéo, trùng lắp hoặc bỏ sót chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nước. Chất lượng ban hành nghị quyết và hoạt động giám sát, khảo sát ngày càng nâng cao. Chất lượng tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp được nâng cao, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm đại biểu HĐND các cấp.
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội tiếp tục được khẳng định, nâng cao. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đã phối hợp các tổ chức thành viên thực hiện tốt tuyên truyền, vận động Nhân dân các dân tộc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương. Các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động được hưởng ứng tích cực. Công tác giám sát, phản biện xã hội triển khai ngày càng hiệu quả rõ rệt hơn.
2. Phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường
Trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, nền kinh tế của hai tỉnh duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, quy mô kinh tế ngày càng mở rộng. Tốc độ tăng GRDP (theo giá so sánh) giai đoạn 2021-2025 bình quân đạt khoảng 6,24%/năm (trong đó: Đắk Lắk đạt 6,31%/năm; Phú Yên đạt 6,1%/năm), cao hơn mức trung bình chung cả nước. Cả ba khu vực đều có tăng trưởng khá so với giai đoạn trước, trong đó điểm sáng là khu vực công nghiệp với mức tăng bình quân là 10,95%/năm (đóng góp 1,35 điểm phần trăm vào tốc độ tăng GRDP), khu vực dịch vụ với mức tăng bình quân 6,22% đóng góp 2,68 điểm phần trăm vào tốc độ tăng GRDP. Tổng sản phẩm theo giá hiện hành trong 5 năm đạt khoảng 913.014 tỷ đồng, mức tăng bình quân 11,8%/năm; năm 2025 dự kiến đạt 230.662 tỷ đồng, cao gấp 1,75 lần so với năm 2020. Đời sống người dân ngày càng được cải thiện, GRDP bình quân đầu người tăng cao so với giai đoạn trước.
Cơ cấu GRDP: Với mức tăng trưởng ổn định, tỷ trọng của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản trong GRDP tăng từ 32,99% năm 2020 lên khoảng 34,52% năm 2025. Khu vực công nghiệp-xây dựng dịch chuyển tích cực, tỷ trọng trong nền kinh tế tăng từ 19,28% năm 2020 lên khoảng 21,76% vào năm 2025. Chịu tác động mạnh của đại dịch COVID-19, tỷ trọng đóng góp của khu vực dịch vụ giảm từ 43% năm 2020 còn khoảng 39,9% vào năm 2025.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm khoảng 302.638 tỷ đồng, chiếm 33% GRDP theo giá hiện hành. Kinh tế tư nhân đóng góp tích cực vào tăng trưởng, huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Thu hút được nhiều dự án chiến lược, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội, nổi bật là các dự án thuộc lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghiệp chế biến, nhà ở, khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp. Cơ cấu thu, chi ngân sách nhà nước chuyển biến tích cực.
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản phát triển khá nhanh theo hướng chất lượng cao, bền vững; đóng vai trò “trụ đỡ” duy trì tốc độ tăng trưởng và mở rộng quy mô kinh tế của tỉnh. Tăng trưởng ngành nông nghiệp bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 5,24%/năm. Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tiếp tục được triển khai rộng khắp, thực chất, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc (có 02 huyện đạt chuẩn nông thôn mới và thành phố Buôn Ma Thuột hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới). Việc xây dựng thương hiệu cà-phê Buôn Ma Thuột, phát triển cà-phê đặc sản hướng đến mục tiêu “Đắk Lắk là điểm đến của cà-phê thế giới” và thương hiệu tôm hùm Phú Yên được chú trọng thực hiện.
Công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng tái tạo có bước phát triển nhanh; hoạt động xây dựng đạt được nhiều kết quả tích cực. Cơ cấu nội ngành công nghiệp chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng khai thác, tăng nhanh chế biến, chế tạo. Công nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch được chú trọng phát triển. Năng lượng tái tạo phát triển đúng định hướng, trở thành điểm sáng trong phát triển công nghiệp của tỉnh. Các khu, cụm công nghiệp từng bước được đầu tư, hoàn thiện, góp phần tạo điều kiện cho thu hút doanh nghiệp đầu tư vào tỉnh. Hạ tầng giao thông được quan tâm tập trung đầu tư từ nhiều nguồn vốn, nhiều dự án trọng điểm quốc gia, liên vùng, liên tỉnh, nội tỉnh được đầu tư, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đi lại, vận chuyển trong và ngoài tỉnh. Công tác quy hoạch, bảo đảm vật liệu xây dựng, phát triển nhà ở và hạ tầng kỹ thuật được đẩy mạnh, góp phần nâng cao chất lượng đô thị. Hệ thống đô thị phát triển nhanh về số lượng, quy mô; tỷ lệ đô thị hóa tăng, hình thành mạng lưới đô thị trung tâm-vệ tinh liên kết vùng.
Ngành dịch vụ tiếp tục được cơ cấu lại theo hướng nâng cao chất lượng; thương mại điện tử, du lịch có bước phát triển khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn bình quân tăng 9,1%/năm. Các hoạt động thương mại, thương mại điện tử, mua bán trên nền tảng số được khai thác hiệu quả, dần trở thành kênh phân phối quan trọng. Công tác xúc tiến, quảng bá và liên kết hợp tác phát triển du lịch được triển khai tích cực, góp phần truyền tải hình ảnh con người, tiềm năng, thế mạnh của tỉnh đến với du khách trong và ngoài nước. Các loại hình dịch vụ (vận tải, bưu chính, viễn thông, ngân hàng...) phát triển đa dạng, ổn định, góp phần phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao đời sống của người dân.
Doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) từng bước phục hồi sau đại dịch COVID-19 và tiếp tục phát triển về số lượng và quy mô so với giai đoạn trước. Tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 5 năm khoảng trên 9.400 doanh nghiệp; nhiều doanh nghiệp đã chủ động đổi mới, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, tham gia tích cực vào việc giải quyết công ăn, việc làm, an sinh xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương. Hoạt động kinh tế tập thể, hợp tác xã có những chuyển biến tích cực. Khu vực doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần, công ty TNHH MTV và giải thể theo quy định. Năng lực hệ sinh thái khởi nghiệp được tăng cường, phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từng bước phát triển rộng khắp.
Khoa học và phát triển công nghệ tiếp tục có chuyển biến tích cực, chuyển đổi số được quan tâm đẩy mạnh. Hệ thống bảo hộ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ ngày càng hoàn thiện; các hoạt động hỗ trợ xây dựng, bảo vệ thương hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh được chú trọng. Đóng góp của khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh của tỉnh ngày càng tăng. Chuyển đổi số, trọng tâm là xây dựng chính quyền số, thúc đẩy phát triển kinh tế số và xây dựng xã hội số được quan tâm đẩy mạnh. Phát triển kinh tế số đạt được nhiều kết quả tích cực, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển.
Các hoạt động kinh tế đối ngoại được triển khai chủ động, tích cực. Từng bước mở rộng quan hệ hợp tác đầu tư với nhiều đối tác mới; duy trì và thúc đẩy quan hệ hợp tác với các đối tác cấp địa phương đã có các thỏa thuận ký kết với tỉnh. Hợp tác với các địa phương trong nước cũng được mở rộng, góp phần đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, nghiên cứu khoa học, trao đổi thông tin, giao lưu văn hóa, xúc tiến giao thương, phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
Các hoạt động liên kết hợp tác phát triển vùng Tây Nguyên, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ theo Nghị quyết số 23-NQ/TW và Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị và liên kết hợp tác với các vùng lân cận được chú trọng triển khai thực hiện, tăng cường không gian kết nối, phát huy tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Các nhiệm vụ có tính chất liên vùng do Hội đồng điều phối vùng triển khai được tỉnh chú trọng và tích cực tham gia thực hiện, nhất là việc tham gia đề xuất các nội dung dự án trọng điểm, có tính liên vùng trong quy hoạch vùng.
Hai tỉnh trước sắp xếp đã chủ động triển khai hợp tác thông qua các chương trình phát triển kinh tế-xã hội nội vùng và với các tỉnh lân cận như Chương trình liên kết phát triển kinh tế-xã hội giữa các tỉnh Lâm Đồng-Khánh Hòa-Bình Thuận-Ninh Thuận-Đắk Lắk-Phú Yên; Chương trình hợp tác phát triển giữa 5 tỉnh Tây Nguyên và Khánh Hòa, Phú Yên; Hợp tác phát triển du lịch Bình Định-Phú Yên-Gia Lai-Đắk Lắk; hợp tác với Thành phố Hồ Chí Minh... Các hoạt động chủ yếu tập trung vào lĩnh vực du lịch, y tế và đầu tư, bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, góp phần phát triển kinh tế-xã hội từng địa phương.
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, phát triển không gian kinh tế được quan tâm thực hiện. Đã khẩn trương tổ chức xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Phú Yên (trước sắp xếp) thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tỉnh kịp thời, đúng quy định, tạo hành lang pháp lý quan trọng trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, kiến tạo không gian phát triển mới, khơi thông nguồn lực và khai thác hiệu quả hơn tiềm năng, thế mạnh, lợi thế so sánh khác biệt của địa phương.
Công tác quản lý, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được chú trọng, có chuyển biến tích cực. Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn 2021-2030 được tổ chức rà soát, điều chỉnh và phê duyệt đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh. Hiệu lực, hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên được tăng cường. Cơ bản hoàn thành hệ thống thông tin đất đai toàn tỉnh; tỷ lệ che phủ rừng dự kiến đạt 41,37% vào cuối năm 2025. Các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu được triển khai đồng bộ, tập trung vào phòng, chống thiên tai, kiểm soát sạt lở, ngập úng ven biển, ven sông. Tỷ lệ khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung được nâng cao.
Kết quả cải cách hành chính được cải thiện khá qua từng năm. Cải cách thể chế được chú trọng thực hiện, việc rà soát, tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho sản xuất, kinh doanh được triển khai thường xuyên, kịp thời. Trung tâm Phục vụ hành chính công và Bộ phận Một cửa các cấp có nhiều đổi mới, hướng tới sự hài lòng của tổ chức, doanh nghiệp, người dân. Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được triển khai sâu rộng, đồng bộ, 100% TTHC đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến.
3. Phát triển văn hóa, xã hội, con người
Giáo dục-đào tạo tiếp tục được đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo, giảng dạy. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2025 đạt khoảng 61%. Giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chăm lo, ưu tiên đầu tư. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; duy trì vững chắc, từng bước nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT tỉnh trung bình giai đoạn 2020-2024 là 97,46%. Số lượng học sinh đạt giải thưởng quốc gia, khu vực tăng rõ rệt. Phát triển hệ thống các trường đại học, phân hiệu học viện, phân hiệu đại học quy mô lớn nhất trong vùng, đáp ứng nhu cầu đào tạo vùng Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia.
Công tác giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, lịch sử được quan tâm, định hình trong từng bước phát triển. Phong trào văn hóa, văn nghệ phát triển sâu rộng. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa ngày càng được chú trọng, trong đó, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch được tập trung đẩy mạnh. Tổ chức tốt nhiều lễ hội, sự kiện văn hóa, du lịch với quy mô lớn, tạo dấu ấn trong đời sống xã hội. Hệ thống thiết chế văn hóa được tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng; hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật phát triển tích cực. Hệ thống cơ sở vật chất, công trình cho hoạt động thể dục, thể thao được quan tâm đầu tư xây dựng. Phong trào thể dục thể thao ngày càng được Nhân dân hưởng ứng; thể thao thành tích cao có bước phát triển; đã đăng cai tổ chức thành công nhiều giải thể thao khu vực, toàn quốc.
Công tác quản lý nhà nước về y tế tiếp tục được tăng cường, chất lượng chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh được nâng cao ở các tuyến. Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được đầu tư và củng cố, 79,86% xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn đến 2030; phát huy tốt vai trò trong phòng, chống dịch bệnh; ứng dụng thành công các kỹ thuật mới, tiên tiến, điều trị có hiệu quả một số bệnh nặng, hiểm nghèo. Các giải pháp tăng tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế được đẩy mạnh, có chuyển biến tích cực, hình thành nhiều cơ sở y tế tư nhân với quy mô lớn và trang thiết bị hiện đại, góp phần giảm áp lực cho hệ thống y tế công lập.
Công tác giải quyết việc làm, thực hiện các chính sách xã hội được quan tâm thực hiện và đạt kết quả tốt, góp phần giải quyết việc làm và giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Công tác đào tạo nghề, dạy nghề cho lao động được quan tâm mở rộng về hình thức, quy mô và chất lượng đào tạo, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của thị trường. Công tác giải quyết việc làm được quan tâm thực hiện, đạt kết quả tốt. Chính sách an sinh xã hội, trợ giúp xã hội, giảm nghèo; công tác xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình chính sách, người có công với cách mạng, nạn nhân chất độc da cam được quan tâm đẩy mạnh. Đến nay, toàn tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ xây mới, sửa chữa và bàn giao đưa vào sử dụng 8.915 căn nhà, đạt 100% kế hoạch. Thực hiện kịp thời, đầy đủ công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội.
Công tác dân tộc và các chính sách dân tộc được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc được chú trọng thực hiện; các chính sách, chương trình, đề án, trọng tâm là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 được chú trọng thực hiện, bảo đảm trọng tâm, đúng đối tượng, qua đó góp phần cải thiện đời sống người dân, tỷ lệ hộ nghèo nói chung và tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm đáng kể qua từng năm. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh giảm còn khoảng 2,08%, tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm còn khoảng 10,06%.
Công tác tôn giáo và chính sách tôn giáo được thực hiện theo đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của Nhân dân trên địa bàn. Giải quyết kịp thời các nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, nhu cầu chính đáng của các tôn giáo. Chú trọng thực hiện tốt các chế độ, chính sách, các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân vùng đồng bào có đạo. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các chức sắc, tín đồ thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực hưởng ứng tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
4. Lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chiến lược, đề án, kế hoạch bảo đảm quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, đặc biệt là Đề án tiếp tục sắp xếp tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh”. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và nền biên phòng toàn dân tiếp tục được củng cố vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ đạt 100% chỉ tiêu giao. Tổ chức và chỉ đạo diễn tập ở các cấp hoàn thành tốt trở lên. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, có số lượng hợp lý và chú trọng chất lượng chính trị, tổ chức tinh gọn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội cơ bản được giữ vững, góp phần ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội.
Công tác đối ngoại được chủ động triển khai có hiệu quả; nhận thức của các cấp, ngành và Nhân dân về vai trò đối ngoại tiếp tục được nâng cao. Mở rộng hợp tác với nhiều đối tác mới, duy trì quan hệ hữu nghị truyền thống với các địa phương của Lào, Campuchia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Đức... Ngoại giao kinh tế, xúc tiến đầu tư, giao lưu văn hóa, chuyển giao công nghệ được đẩy mạnh. Quản lý đoàn ra, đoàn vào và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (NGOs) được thực hiện nền nếp, chặt chẽ. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài được quan tâm, tạo điều kiện để người Đắk Lắk ở trong và ngoài nước đóng góp xây dựng quê hương, đất nước.
5. Nguyên nhân của những kết quả đạt được
5.1. Nguyên nhân khách quan
Đảng bộ tỉnh luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Trung ương Đảng, Chính phủ, các ban, bộ, ngành Trung ương; sự phối hợp, tạo điều kiện giúp đỡ cùng phát triển của các tỉnh, thành phố trong cả nước. Những định hướng, giải pháp lớn được nêu trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và các chủ trương của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ…, là cơ sở, định hướng quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025 đã đề ra.
5.2. Nguyên nhân chủ quan
Đảng bộ, chính quyền, quân và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực, chủ động, sáng tạo triển khai Nghị quyết phù hợp với thực tiễn địa phương. Phương thức lãnh đạo, chỉ đạo từng bước được đổi mới, nâng cao. Đảng bộ xác định đúng, rõ định hướng phát triển, có trọng tâm, trọng điểm. Phát huy cao độ nguyên tắc tập trung dân chủ, sức mạnh tổng hợp, truyền thống đoàn kết, anh hùng, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cấp ủy Đảng địa phương, đơn vị đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, đổi mới tư duy, lề lối làm việc, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm… trong thực thi nhiệm vụ.
Tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ có ý nghĩa quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Đồng thời, đã huy động được nhiều nguồn lực xã hội và sức mạnh tổng hợp của Nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương.
II- HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Hạn chế, khuyết điểm
1.1. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị
Việc vận dụng và cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh vào lĩnh vực xây dựng Đảng của một số ít cấp ủy, tổ chức đảng còn hạn chế, bị động, lúng túng; một số vấn đề nảy sinh ở cơ sở chưa được phát hiện và đề xuất biện pháp giải quyết kịp thời.
Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng, đảng viên chưa theo kịp với tình hình, nhất là ở thôn, buôn, tổ dân phố; công tác tạo nguồn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ phát triển đảng viên ở một số chi bộ thôn, buôn, tổ dân phố còn thấp. Việc thành lập mới, củng cố tổ chức Đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước còn nhiều khó khăn, kết quả chưa cao. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, thiếu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ; chất lượng sinh hoạt chi bộ một số nơi chưa cao.
Việc tổ chức thực hiện, triển khai một số nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn chậm; biện pháp, giải pháp chưa thật đồng bộ, chậm rà soát, đánh giá bổ sung kịp thời. Công tác kiểm tra, giám sát ở cơ sở còn hạn chế, còn để xảy ra vi phạm của tập thể và cá nhân cán bộ, đảng viên phải xử lý kỷ luật. Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện khắc phục các nội dung vi phạm, khuyết điểm tại các thông báo kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư còn chậm, chưa bảo đảm thời gian theo yêu cầu, nhất là các nội dung liên quan các dự án đầu tư.
Công tác chỉ đạo, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp, cải cách thủ tục hành chính chưa đáp ứng yêu cầu trong quá trình đổi mới. Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là ở cơ sở một số nơi còn hạn chế, chất lượng chưa đồng đều. Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ có trình độ khoa học, công nghệ chuyên sâu chưa bảo đảm ở một số ngành, lĩnh vực, địa phương. Một số cấp ủy đảng chưa thường xuyên quan tâm lãnh đạo việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội; sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể với chính quyền, các ngành chức năng có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, đồng bộ, còn hình thức, hiệu quả chưa cao.
Hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn hạn chế, chưa phát huy đầy đủ vai trò, vị thế của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội. Một số phong trào thi đua, cuộc vận động có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao.
1.2. Phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường
Bên cạnh kết quả đạt được, phát triển kinh tế-xã hội chưa thật bền vững, tỉnh Đắk Lắk (cũ) còn 04 chỉ tiêu không đạt, tỉnh Phú Yên (cũ) còn 03 chỉ tiêu không đạt kế hoạch đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng phát triển; tái cơ cấu kinh tế chưa đạt hiệu quả theo mục tiêu, định hướng. Thu ngân sách Nhà nước chưa đạt mục tiêu đề ra, cơ cấu nguồn thu thiếu ổn định và chưa thực sự vững chắc. Nông nghiệp tuy tăng trưởng nhưng còn nhiều yếu tố thiếu bền vững. Tăng trưởng khu vực công nghiệp-xây dựng chưa đạt kỳ vọng, còn thiếu tính ổn định. Hạ tầng khu, cụm công nghiệp chưa đồng bộ, tỷ lệ khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường chưa đạt kế hoạch đề ra; mạng lưới giao thông còn nhiều hạn chế, phát triển đô thị và quản lý, sử dụng tài nguyên khoáng sản, đất đai, môi trường còn bất cập. Thương mại-dịch vụ phát triển và có mức tăng trưởng khá, nhưng đóng góp vào cơ cấu kinh tế còn thiếu ổn định. Quy mô, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh. Chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Năng lực cạnh tranh của ngành du lịch chưa cao, chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.
Khoa học và công nghệ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ còn hạn chế. Chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số vẫn còn khoảng cách xa so với mục tiêu đề ra. Công tác xúc tiến, thu hút đầu tư chưa thực sự hiệu quả; tiến độ triển khai các dự án ngoài ngân sách còn chậm. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn chậm, ảnh hưởng đến tiến độ một số dự án quan trọng và tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch chuyên ngành khác còn chồng chéo, thiếu đồng bộ. Tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai, khoáng sản còn diễn ra, một số trường hợp chưa được phát hiện xử lý kịp thời, dứt điểm.
1.3. Phát triển văn hóa, xã hội, con người
Lĩnh vực giáo dục-đào tạo chưa thật sự quan tâm, đầu tư xứng tầm để thực hiện định hướng xây dựng và phát triển con người Đắk Lắk toàn diện, bản sắc. Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học chưa theo kịp yêu cầu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế khó khăn. Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhân lực y tế của tỉnh vẫn còn thiếu hụt cả về số lượng và chất lượng; cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế còn thiếu, chưa đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Chưa có nhiều cơ chế, chính sách hiệu quả nhằm khai thác, phát huy các giá trị văn hóa. Các thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cấp xã còn nhiều hạn chế, chưa được đầu tư đồng bộ. Tỷ lệ hộ nghèo, đặc biệt là tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao.
1.4. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Tình hình an ninh, trật tự có thời điểm còn phức tạp, bị động. Hiệu quả phòng ngừa xã hội đối với tội phạm trộm cắp, cố ý gây thương tích, lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng còn thấp. Nguồn lực đầu tư xây dựng tiềm lực về quốc phòng, an ninh còn hạn chế, có mặt chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác, chiến đấu và xu thế phát triển.
Chất lượng, hiệu quả một số hoạt động đối ngoại chưa cao; chưa có nhiều dự án, nội dung hợp tác với các đối tác nước ngoài mang lại hiệu quả.
Tình hình tranh chấp đất đai, khiếu kiện ở một số địa bàn vẫn còn diễn biến phức tạp. Công tác nắm tình hình địa bàn, quản lý đối tượng từ cơ sở còn bộc lộ yếu kém, để xảy ra vụ khủng bố ngày 11/6/2023 tại huyện Cư Kuin, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Công tác trao đổi thông tin, phối hợp giữa các đơn vị chưa chặt chẽ. Tình hình khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân có thời điểm tăng cao; một số vụ việc chưa được các địa phương, cơ quan chức năng giải quyết triệt để.
2. Nguyên nhân hạn chế, khuyết điểm
2.1. Nguyên nhân khách quan
Tình hình kinh tế-chính trị thế giới biến động rất nhanh, mạnh, phức tạp, chưa có tiền lệ, vượt quá khả năng dự báo. Tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt là đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống Nhân dân. Các nguồn lực đầu tư cho phát triển còn hạn hẹp; hạ tầng kinh tế-xã hội còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ. Các thế lực thù địch, phản động thường xuyên chỉ đạo hoạt động chống phá quyết liệt, âm mưu, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm, nhất là tội phạm sử dụng công nghệ cao; một số vấn đề nổi cộm, phức tạp như: Dân tộc, tôn giáo, đất đai, an sinh xã hội... tiềm ẩn nguy cơ bị các đối tượng phản động lợi dụng, xuyên tạc, kích động, chống phá. Chính sách, pháp luật trong một số lĩnh vực còn chồng chéo, vướng mắc, thiếu ổn định. Cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung chưa rõ ràng.
2.2. Nguyên nhân chủ quan
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành ở một số cấp, ngành, địa phương còn thiếu tính chủ động, quyết liệt; chưa tập trung mạnh mẽ vào những việc, những khâu quan trọng có tính quyết định. Tinh thần, trách nhiệm của một số người đứng đầu cơ quan trong hệ thống chính trị; thái độ, ý thức trách nhiệm, năng lực, trình độ của một số cán bộ, công chức, viên chức chưa cao, có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác cán bộ, nhất là đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ là người đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm ở một số nơi, một số việc chưa triệt để nên hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao. Công tác nắm bắt, dự báo tình hình còn nhiều hạn chế, có thời điểm còn bị động. Công tác phối hợp, trao đổi thông tin giữa các lực lượng chức năng chưa thường xuyên.
Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật nói chung và công tác tuyên truyền pháp luật về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách tư pháp, khiếu nại, tố cáo nói riêng chưa thật sự hiệu quả. Vẫn còn tình trạng một số cấp ủy chưa coi trọng đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; một số cấp ủy cơ sở thiếu chủ động, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào cấp trên.
Một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về yêu cầu, tầm quan trọng, sự cần thiết trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII, khóa XIII) gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo xử lý một số vấn đề tồn tại, yếu kém có nơi, có lúc thiếu kiên quyết, dẫn đến kéo dài nhiều năm, khó giải quyết, nhất là lĩnh vực đất đai, đầu tư xây dựng.
Hoạt động của hệ thống chính trị có lúc, có nơi thiếu đồng bộ, chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao, chưa nắm bắt được biến động tại cơ sở nên không có giải pháp tháo gỡ kịp thời gây ra các điểm nóng về tranh chấp đất đai, khiếu kiện đông người, xâm phạm đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội chưa đầy đủ.
III- ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Đánh giá chung
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025, toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân trong tỉnh đã tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, bám sát, chấp hành nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, nỗ lực vượt qua khó khăn, quyết tâm phấn đấu thực hiện đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị tiếp tục được quan tâm, có nhiều tiến bộ, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong hệ thống chính trị. Nền kinh tế tỉnh phát triển ổn định và tăng trưởng khá; quy mô nền kinh tế được mở rộng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nhiều mặt phát triển đáng kể. Bộ mặt nông thôn, miền núi, đô thị có đổi mới, khởi sắc. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội có chuyển biến tích cực; an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng lên. Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường. Công tác đối ngoại đạt những kết quả tích cực.
Mục tiêu đặt ra được nêu trong các nghị quyết đại hội của 02 đảng bộ tỉnh (trước sáp nhập) cơ bản đã hoàn thành; tổng số 16 nhóm chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu của Đắk Lắk (cũ) đã thực hiện đạt và vượt 12 chỉ tiêu; tổng số 13 nhóm chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu của tỉnh Phú Yên (cũ) đã thực hiện đạt và vượt 10 chỉ tiêu. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo hợp nhất, sáp nhập 02 tỉnh Phú Yên và Đắk Lắk thành tỉnh Đắk Lắk, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp được tiến hành khẩn trương, bài bản và hiệu quả, bảo đảm tính liên tục, đồng bộ trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ, quản lý nhà nước và phục vụ Nhân dân.
Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, còn có những hạn chế cần khắc phục như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng phát triển. Cải cách hành chính, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo hoạt động văn hóa-giáo dục chưa có nhiều kết quả nổi bật, có mặt chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Công tác nắm bắt về tình hình quốc phòng, an ninh có thời điểm còn bị động. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là ở cấp cơ sở có mặt chưa đáp ứng yêu cầu; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn yếu.
2. Bài học kinh nghiệm
(1) Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất, tuyệt đối và trực tiếp của Đảng trên tất cả các lĩnh vực; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc nêu gương cả trong nhận thức và hành động. Đặc biệt coi trọng việc giữ gìn, phát huy đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ, tạo sự đồng thuận trong cả hệ thống chính trị và trong Nhân dân.
(2) Mọi chủ trương, chính sách đều phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng và hạnh phúc của Nhân dân. Tăng cường đối thoại giữa bí thư các cấp ủy với Nhân dân để kịp thời nắm bắt, giải quyết các kiến nghị chính đáng của Nhân dân, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân. Kiên quyết thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ và hiệu quả công việc.
(3) Tranh thủ tối đa sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương; sự phối hợp, hỗ trợ của các tỉnh bạn. Làm tốt công tác đối ngoại, hội nhập, tranh thủ mọi nguồn lực bên ngoài, góp phần vượt qua khó khăn, thách thức, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
(4) Phát huy sức mạnh tổng hợp để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân trong khu vực phòng thủ, đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
(5) Nâng cao tinh thần đoàn kết, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ. Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; chủ động tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên, nâng cao trình độ, năng lực tổ chức chỉ huy điều hành của đội ngũ cán bộ, đó là vấn đề then chốt quyết định thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội.
(6) Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sâu sát, bám sát thực tiễn và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Kiên quyết khắc phục những hạn chế, yếu kém, xác định trách nhiệm cụ thể và có giải pháp phù hợp, hiệu quả. Đồng thời, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, gần dân, sát dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, coi đây là nhân tố then chốt quyết định sự phát triển bền vững của địa phương.
I- BỐI CẢNH, TÌNH HÌNH
Dự báo tình hình thế giới tiếp tục có sự chuyển biến nhanh, phức tạp, khó lường; chủ nghĩa bảo hộ, chiến tranh thương mại gia tăng đi đôi với xu hướng điều chỉnh chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu; chiến tranh, xung đột xảy ra giữa một số quốc gia. Sự phát triển và ứng dụng rộng rãi của công nghệ mới, nhất là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng đang trở thành xu thế tất yếu, tạo thời cơ, thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít thách thức, khó khăn. Những vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh ngày càng gay gắt, khó dự báo.
Đất nước có sự đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ về tư duy phát triển trên tất cả các lĩnh vực; các đột phá chiến lược, nhiệm vụ trọng tâm về hoàn thiện thể chế, phát triển kết cấu hạ tầng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, cuộc cách mạng về mô hình tổng thể và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả... Trong tỉnh, kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển; việc tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh tạo nên không gian phát triển mới; với truyền thống đoàn kết trong Đảng bộ, đoàn kết giữa các vùng miền và các dân tộc sau khi sắp xếp giữa các địa phương, đặc biệt là truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời giữa hai tỉnh Đắk Lắk (cũ)-Phú Yên, đó là nguồn lực nội sinh quan trọng cần phải được phát huy trong giai đoạn mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh chưa thật bền vững, tốc độ tăng trưởng vẫn chưa tương xứng tiềm năng và chưa có nhiều đột phá, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao; các vấn đề về suy giảm tài nguyên, biến đổi khí hậu, dịch bệnh diễn biến ngày càng khó lường đã, đang trở thành thách thức lớn của tỉnh. Tình hình khiếu kiện đông người, tranh chấp đất đai; số đối tượng bất mãn, chống đối chính trị tiếp tục triệt để lợi dụng không gian mạng để gia tăng hoạt động tuyên truyền chống phá gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Xu thế công nghệ số và tốc độ tăng trưởng của các tỉnh có lợi thế so sánh sẽ phát triển mạnh, nếu không nắm bắt, thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp có hiệu quả sẽ dẫn đến nguy cơ tụt hậu là những khó khăn, thách thức đối với sự phát triển của tỉnh.
II- QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
1. Phát triển kinh tế-xã hội nhanh, toàn diện và bền vững trên cơ sở khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế đặc trưng. Xác định đổi mới sáng tạo, khoa học và công nghệ là động lực cốt lõi để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung phát triển đồng bộ các trụ cột kinh tế có lợi thế so sánh, gồm: Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; công nghiệp chế biến sâu, công nghiệp luyện kim, lọc hóa dầu, năng lượng tái tạo; kinh tế rừng, kinh tế biển; dịch vụ cảng biển, logistics và du lịch sinh thái, văn hóa, bản sắc. Phát triển kinh tế gắn với tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số là định hướng xuyên suốt, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội.
2. Giữ vững ổn định để phát triển, phát triển để củng cố ổn định, trong đó lấy ổn định chính trị-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới, biển đảo là điều kiện tiên quyết; phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là then chốt. Phát triển kinh tế phải gắn với bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa vùng động lực và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
3. Lấy con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực và mục tiêu của phát triển; văn hóa là nền tảng; đổi mới sáng tạo, khoa học-công nghệ và chuyển đổi số là đột phá. Tập trung xây dựng xã hội học tập, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, nguồn nhân lực; phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa các dân tộc; bảo tồn và phát triển các giá trị bản sắc văn hóa Tây Nguyên, ven biển miền trung gắn với hội nhập và phát triển bền vững. Đẩy mạnh toàn diện cải cách hành chính; xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo của nền hành chính.
4. Phát triển có trọng tâm, trọng điểm; tổ chức lại không gian phát triển theo hướng mở rộng liên kết vùng-liên kết ngành, khai thác hiệu quả các hành lang kinh tế đông-tây, ven biển và xuyên vùng để hình thành các chuỗi giá trị liên kết chặt chẽ. Phát triển đô thị theo mô hình chuỗi; trong đó, khu vực Buôn Ma Thuột là trung tâm phía tây, khu vực Tuy Hòa là trung tâm ven biển phía Đông của tỉnh; hình thành các cực tăng trưởng, khu kinh tế, khu công nghiệp-đô thị-dịch vụ động lực ở cả phía tây và phía đông tỉnh.
III- MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát đến năm 2030
Xây dựng Đảng bộ, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Khai thác và phát huy hiệu quả các tiềm năng, lợi thế, bản sắc văn hóa của các dân tộc và không gian phát triển mới để phát triển nhanh và bền vững; tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng đời sống của Nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2030
2.1. Các chỉ tiêu về kinh tế
(1) Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP theo giá so sánh) bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10,5%/năm trở lên.
(2) GRDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) đến năm 2030 đạt 153 triệu đồng/người trở lên.
(3) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm 2026-2030 đạt trên 620.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 35% trong GRDP theo giá hiện hành.
(4) Tổng giá trị xuất khẩu trong 5 năm 2026-2030 đạt trên 13.000 triệu USD, bình quân tăng 5-6%/năm.
(5) Tổng mức bán lẻ hàng hóavà doanh thu dịch vụ trong 5 năm 2026-2030 đạt 1.240.000 tỷ đồng, tăng bình quân khoảng 10%/năm.
(6) Tổng khách du lịch đến tỉnh trong 5 năm 2026-2030 đạt 43 triệu lượt khách, bình quân tăng 10,97%/năm; tổng doanh thu du lịch trong 5 năm 2026-2030 đạt 97.150 tỷ đồng, bình quân tăng 14,5%/năm.
(7) Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (không kể thu tiền sử dụng đất) bình quân tăng từ 11%/năm trở lên.
(8) Tỷ lệ bảo đảm tưới cho cây trồng dùng nước đến năm 2030 đạt trên 86%.
(9) Tổng số doanh nghiệp thành lập mới trong 5 năm 2026-2030 đạt khoảng 15.500 doanh nghiệp, bình quân tăng 13%/năm.
(10) Quy mô kinh tế số đến hết năm 2030 đạt 30% GRDP.
2.2. Các chỉ tiêu về văn hóa-xã hội
(11) Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm bình quân từ 2%/năm trở lên; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân từ 3%/năm trở lên. Đến năm 2030, không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025.
(12) Tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc gia năm 2030 đạt 70%.
(13) Chỉ tiêu về lao động, việc làm: Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2030 đạt trên 75%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ đạt khoảng 30%. Mỗi năm tạo việc làm tăng thêm cho trên 56.000 lao động, trong đó: xuất khẩu lao động khoảng 2.000-2.500 người. Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị đến năm 2030 còn 2%.
(14) Đến năm 2030: Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi) còn 12,15%. Số giường bệnh trên một vạn dân (không tính giường trạm y tế xã) đạt 33 giường; số bác sĩ trên một vạn dân đạt 10,2 bác sĩ. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 96,5%.
(15) Đến năm 2030, có 68/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), trong đó có 16/88 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, 08/88 xã đạt chuẩn NTM hiện đại.
2.3. Các chỉ tiêu về môi trường
(16) Đến năm 2030: Tỷ lệ che phủ rừng đạt 42% trở lên. Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 98%. Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 98,7%. Tỷ lệ cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100%. Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý theo quy định đạt 98%.
2.4. Các chỉ tiêu về quốc phòng, an ninh
(17) Thực hiện tốt công tác đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi nhập ngũ; tuyển chọn, gọi nhập ngũ đạt 100% chỉ tiêu cấp trên giao; xây dựng đủ 100% đầu mối đơn vị dự bị động viên, dân quân tự vệ, tổ chức, biên chế đúng quy định. Tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh; chỉ đạo diễn tập chiến đấu cấp xã trong khu vực phòng thủ đạt 100% kế hoạch; 100% ban chỉ huy cấp xã có nhà làm việc độc lập; xây dựng từ 01 trung đội thiếu đến 01 trung đội dân quân thường trực các xã, phường; tỷ lệ điều tra, khám phá tội phạm xâm phạm trật tự án hình sự bình quân đạt trên 75%, tỷ lệ điều tra, khám phá án hình sự rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng bình quân đạt trên 90%; phấn đấu đến năm 2030 đạt mục tiêu ít nhất 50% xã, phường trên địa bàn tỉnh không có ma túy; kiềm chế, làm giảm ít nhất 5% tội phạm về trật tự xã hội/năm; phấn đấu giảm thiểu tai nạn giao thông trên cả 03 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ.
2.5. Chỉ tiêu về xây dựng Đảng
(18) Tỷ lệ kết nạp đảng viên mới hằng năm đạt từ 3%-4% tổng số đảng viên.
- Giữ vững 100% thôn, buôn, tổ dân phố có chi bộ.
- Hằng năm, có trên 90% số tổ chức cơ sở đảng, đảng viên được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.
IV- NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
1. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng bộ máy chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, bảo đảm tính kế thừa và đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới.
2. Tiếp tục tái cơ cấu kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới. Cơ cấu lại các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả dựa trên công nghệ cao, chuyển đổi số và giá trị gia tăng cao. Phát triển nông nghiệp sinh thái, bền vững, hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn gắn với chuỗi giá trị. Nâng cao chất lượng các sản phẩm nông sản, thủy hải sản đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Tập trung phát triển kinh tế biển và du lịch thành động lực tăng trưởng.
3. Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thông qua việc cải cách hành chính, đổi mới mạnh mẽ tư duy hành chính, chuyển từ kiểm soát sang đồng hành, phục vụ doanh nghiệp. Đẩy mạnh chuyển đổi số để cắt giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
4. Huy động nguồn lực để đầu tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là giao thông (đường bộ, hàng không, cảng biển), hạ tầng các khu, cụm công nghiệp. Tăng cường liên kết phát triển liên vùng, khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, tập trung vào các ngành kinh tế có lợi thế và giá trị gia tăng cao. Quan tâm đôn đốc, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các dự án lớn đã khởi công, khởi động nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
5. Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với định hướng phát triển các ngành mũi nhọn (nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ, du lịch, công nghiệp chế tạo, chế biến, năng lượng tái tạo...). Thực hiện chính sách thu hút lao động chất lượng cao, y, bác sĩ, nhà khoa học đáp ứng nhu cầu phát triển. Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào sản xuất, kinh doanh, quản lý nhà nước, đặc biệt là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đổi mới, nâng cao tính chủ động, chất lượng, hiệu quả của việc triển khai các chương trình hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả thu hút FDI.
6. Xây dựng con người Đắk Lắk phát triển toàn diện gắn với xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống, gìn giữ những nét đặc trưng, đặc thù riêng của đồng bào các dân tộc. Phát huy các giá trị di sản văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển bền vững. Tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao ý thức, trách nhiệm việc khai thác, sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị cốt lõi về thiên nhiên, lịch sử văn hóa.
7. Tiếp tục tập trung củng cố, xây dựng, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức theo hướng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu cao. Tăng cường công tác an ninh mạng và an toàn thông tin trên không gian mạng; chủ động phát hiện, phòng chống tội phạm mới, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong, ngoài nước, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
8. Tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội các cấp trong việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hiện giám sát, phản biện xã hội; tham gia góp ý xây dựng Đảng, Nhà nước; là cầu nối giữa Nhân dân với cấp ủy, chính quyền, làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam yêu nước, tạo sự đồng thuận và lòng tin trong nhân dân.
V- CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ
1. Tập trung phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, trong đó, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thực sự tiêu biểu, nhất là người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực, tư duy mới, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng được yêu cầu trong kỷ nguyên phát triển mới. Tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế vận hành trong bộ máy chính quyền bảo đảm hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
2. Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển chính của tỉnh; tập trung triển khai quyết liệt chuyển đổi số trên cả ba trụ cột: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.
3. Huy động tối đa mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông (đặc biệt là các tuyến cao tốc và các tuyến kết nối vào cao tốc), hạ tầng đô thị, hạ tầng các khu, cụm công nghiệp và hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị, phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững.
VI- CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh toàn diện
Tăng cường xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức
- Về chính trị: Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối đổi mới của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Giữ vững nguyên tắc đoàn kết thống nhất, tự phê bình và phê bình; thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng bộ và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Kiên quyết khắc phục những hạn chế trong khâu tổ chức đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.
- Về tư tưởng: Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, thuyết phục trong tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng. Phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, các cơ quan báo chí và Nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; chủ động dự báo tình hình, kịp thời xử lý thông tin, định hướng dư luận xã hội. Đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách và thường xuyên.
- Về đạo đức: Nâng cao hơn nữa nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về vai trò quan trọng, cấp bách của việc tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức. Thực hiện nghiêm quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ, văn hóa liêm chính, đề cao trách nhiệm nêu gương, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp. Phát huy, duy trì công tác phát hiện, tuyên truyền nhân rộng gương người tốt, việc tốt, thường xuyên tổ chức việc “học tập” và “làm theo” tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về “Đẩy mạnh xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Tăng cường việc giáo dục đạo đức, lối sống, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phát huy tính tiên phong, gương mẫu, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng; nghiêm túc tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình; giữ vững kỷ luật, kỷ cương.
Nâng cao chất lượng công tác tuyên giáo và dân vận; đổi mới học tập, quán triệt Nghị quyết của Đảng; tăng cường xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân
Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng theo hướng tăng tính thực tiễn, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số. Đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động, kịp thời phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch; có giải pháp định hướng tuyên truyền, thông tin nhanh chóng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.
Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện các chỉ thị, nghị quyết về công tác tư tưởng chính trị; đánh giá những kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế, khuyết điểm chỉ rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất kiến nghị với cấp ủy cấp trên nghiên cứu, bổ sung và phát triển lý luận của Đảng; qua sơ kết, tổng kết thực tiễn, đề ra nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để tiếp tục thực hiện và có kiến nghị, đề xuất phù hợp từ thực tiễn khách quan nhằm giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện từ cơ sở.
Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức tổ chức các hoạt động phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, hướng đến mục tiêu đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị tỉnh, nhất là công tác dân vận của các cơ quan nhà nước; nghiên cứu, xây dựng nhiều mô hình mới, cách làm hay, điển hình, nhất là trong xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phong trào thi đua lao động, sản xuất giỏi... để nhân rộng.
Thực hiện tốt quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về dân chủ ở cơ sở gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trên các lĩnh vực. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phong trào “Dân vận khéo”. Tăng cường tiếp xúc, đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội cao trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; xây dựng và phát huy hiệu quả vai trò của người có uy tín, lực lượng cốt cán trong cộng đồng.
Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên
Tiếp tục tổ chức thực hiện hiệu quả chính quyền địa phương hai cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của tỉnh có đủ phẩm chất, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các khâu trong công tác cán bộ. Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ, gắn đào tạo với bố trí, sử dụng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm. Thực hiện đánh giá cán bộ dựa trên định lượng, lượng hóa khối lượng công việc theo vị trí việc làm, bảo đảm nghiêm túc, chặt chẽ; thực hiện tinh giản biên chế đối với các trường hợp năng lực hạn chế, không hoàn thành nhiệm vụ, tín nhiệm thấp. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chú trọng vấn đề chính trị hiện nay; quan tâm tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số bảo đảm năng lực trình độ, cơ cấu, chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ cán bộ.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức đảng, đảng viên. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng Đảng ở các cấp, nhất là cán bộ trong diện quy hoạch. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua xây dựng “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt”. Nghiên cứu đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ, tổ chức sinh hoạt theo chuyên đề gắn với tình hình đặc điểm, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng. Tăng cường công tác quản lý đảng viên, gắn với việc nâng cao chất lượng đảng viên, đề cao việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm để cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng cho Nhân dân noi theo. Tích cực thực hiện công tác phát triển đảng viên, chú trọng kết nạp người tại chỗ ở các thôn, buôn, tổ dân phố, phấn đấu tiến đến các chi bộ thôn, buôn, tổ dân phố đều có chi ủy; trưởng thôn, buôn, tổ dân phố đều là đảng viên, chú trọng kết nạp đối tượng quần chúng là học sinh, sinh viên.
Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; chú trọng công tác khắc phục các kết luận kiểm tra
Tiếp tục nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng, đặc biệt là trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; chuyển trọng tâm sang công tác phòng ngừa, cảnh báo vi phạm, kiểm tra, giám sát không chỉ để phát hiện, xử lý sai phạm; thực hiện giám sát các Nghị quyết của Đảng trên các lĩnh vực để các chủ trương, chính sách của Đảng được tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả, ngay từ khi mới ban hành; phát hiện nhân tố mới tích cực, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; kịp thời phát hiện những vi phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng, đảng viên và “tự soi”, “tự sửa”, chủ động khắc phục, chấn chỉnh khuyết điểm, yếu kém, không để dẫn đến vi phạm. Kịp thời phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên; kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, việc thực thi quyền lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý; kiểm tra, giám sát việc kê khai, công khai tài sản, thu nhập của cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý bảo đảm thực chất, công khai, minh bạch. Coi trọng công tác tự kiểm tra, giám sát của cấp ủy, chi bộ cơ sở nhằm kịp thời phát hiện sớm, ngăn chặn, phòng ngừa, cảnh báo, cảnh tỉnh các vi phạm, khuyết điểm; tập trung theo dõi, nắm tình hình địa bàn, lĩnh vực phức tạp, dễ phát sinh vi phạm, những vấn đề bức xúc trong dư luận; kết hợp nhiều kênh thông tin để kịp thời phát hiện, kiểm tra xử lý những trường hợp vi phạm. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện khắc phục các nội dung vi phạm, khuyết điểm tại các thông báo kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Xây dựng tổ chức bộ máy Ủy ban Kiểm tra, cơ quan Ủy ban Kiểm tra 2 cấp bảo đảm tinh gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của Ngành Kiểm tra, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin theo Đề án chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng và của ngành Kiểm tra Đảng, tiến tới thực hiện việc “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”. Quan tâm công tác luân chuyển cán bộ từ ngành Kiểm tra sang công tác ở các cấp, ngành khác và ngược lại.
Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nâng cao chất lượng công tác nội chính, cải cách tư pháp. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; triển khai quyết liệt, thường xuyên, toàn diện, đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các sai phạm, chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Kết hợp kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp với kiểm tra, giám sát của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng theo quy định. Tập trung công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ giải quyết, xử lý tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án chậm tiến độ, có nguy cơ gây thất thoát, lãng phí. Phối hợp các cơ quan chức năng theo dõi, nắm chắc tình hình, tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp lên Trung ương, các vấn đề phức tạp, nổi lên về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, không để phát sinh “điểm nóng”. Xử lý dứt điểm tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất đai, tranh chấp giữa người dân với nông trường, thu hồi tối đa đất công đã bị lấn chiếm; kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc... Phát huy tốt hơn vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, Nhân dân và các cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Triển khai thực hiện có hiệu quả công tác cải cách tư pháp, trong đó trọng tâm là Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về “Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”. Triển khai thực hiện nghiêm các văn bản của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân. Tập trung chủ động xử lý, giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh khiếu kiện phức tạp, đông người, vượt cấp; giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn, tranh chấp đất đai, quyền lợi giữa người dân, công nhân hộ nhận khoán với các công ty nông, lâm nghiệp, dự án liên quan đến sử dụng đất lâm nghiệp nhằm ổn định tình hình, không để phát sinh vấn đề phức tạp tại địa phương. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng có liên quan cương quyết lập lại trật tự, kỷ cương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý sử dụng đất lâm nghiệp theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, Tỉnh ủy. Xử lý nghiêm các đối tượng chặt phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, lấn chiếm, mua bán, sang nhượng đất rừng.
Kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp các cấp; tăng cường nắm tình hình, phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật về kinh tế, tham nhũng, buôn lậu, môi trường, đặc biệt là các địa bàn, lĩnh vực trọng điểm. Đẩy mạnh công tác điều tra phá án, đặc biệt là các vụ án nổi cộm, bức xúc, các vụ án tham nhũng, lãng phí được quần chúng và dư luận xã hội quan tâm; trong đó, chú trọng công tác xử lý tin báo, tố giác tội phạm; kiểm sát chặt chẽ việc điều tra xử lý tin báo bảo đảm chính xác, kịp thời, nhất là các tin báo tội phạm tham nhũng. Triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức luật sư, trợ giúp pháp lý, công chứng, giám định viên tư pháp và thừa phát lại.
Về phương thức lãnh đạo của Đảng
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Tiếp tục chú trọng đổi mới việc ban hành các chỉ thị, nghị quyết và tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của chính quyền, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính. Chăm lo xây dựng, kiện toàn bộ máy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới; tăng cường các biện pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, thiếu trách nhiệm trong bộ máy chính quyền.
Xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh và hướng về cơ sở
Xây dựng bộ máy chính quyền vững mạnh, nâng cao chất lượng hoạt động. Các đơn vị sau sắp xếp phải có tổ chức bộ máy phù hợp, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gắn với vị trí việc làm; phương thức quản lý theo hướng tiên tiến, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học-công nghệ; hiệu quả hoạt động được đánh giá dựa trên sản phẩm, kết quả công việc. Bảo đảm xuyên suốt việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, nhất là dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu cho Nhân dân, tạo thuận lợi cho Nhân dân trong tiếp cận dịch vụ sự nghiệp công... Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn với tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành. Đổi mới phương thức đánh giá kết quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị gắn với trách nhiệm của người đứng đầu và cấp phó người đứng đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đáp ứng yêu cầu quản lý hiệu quả và tăng cường chất lượng phục vụ Nhân dân.
Lãnh đạo thực hiện tốt công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, các ban của HĐND, các Tổ đại biểu, đại biểu HĐND, nhất là trong việc tiếp công dân, tiếp xúc cử tri, hoạt động giám sát, hoạt động chất vấn; đẩy mạnh giám sát trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng và trong công tác ban hành Nghị quyết về các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đề cao và thực hành văn hóa phục vụ người dân và doanh nghiệp tại các cơ quan hành chính nhà nước.
Phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong tình hình mới
Đẩy mạnh tuyên truyền, tập hợp Nhân dân, các dân tộc, tôn giáo trong tỉnh đồng thuận, thực hiện thắng lợi chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước; tập trung triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tăng cường các hoạt động hướng về cơ sở, phát huy trách nhiệm của đoàn viên, hội viên và Nhân dân tham gia thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị địa phương. Mặt trận Tổ quốc các cấp làm nòng cốt phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội; phát huy tính tích cực, quyền và trách nhiệm của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh, có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, thích ứng với sản xuất công nghiệp hiện đại; có bản lĩnh vững vàng, giác ngộ giai cấp, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc. Phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Phát triển giai cấp nông dân có khát vọng vươn lên, có ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, có trình độ và năng lực tổ chức sản xuất tiên tiến, ứng dụng khoa học-công nghệ, có trách nhiệm xã hội, tôn trọng pháp luật; là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới và công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn.
Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, là nhân tố quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng trí thức trong và ngoài tỉnh, trong nước và ngoài nước. Phát huy vai trò tư vấn, phản biện, tham mưu chủ trương, chính sách của đội ngũ trí thức.
Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, ý chí, khát vọng cống hiến, nêu cao trách nhiệm đối với đất nước, xã hội. Xây dựng môi trường, điều kiện học tập, rèn luyện, để thế hệ trẻ phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và thẩm mỹ. Xây dựng các phong trào thanh niên thi đua học tập, lao động, sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp, làm chủ kiến thức khoa học-công nghệ hiện đại, xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, đồng thời phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của phụ nữ; tích cực xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc. Thực hiện tốt các chính sách, pháp luật liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ; đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em.
Phát huy vai trò của cựu chiến binh trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tích cực giúp nhau làm kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tầm nhìn, trí tuệ, năng lực quản lý, có văn hóa kinh doanh và tinh thần làm giàu chính đáng, tuân thủ pháp luật, đóng góp cho sự phát triển của tỉnh.
Quan tâm chăm sóc, phát huy uy tín, kinh nghiệm của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình. Chăm lo xây dựng lực lượng cốt cán, người có uy tín trong cộng đồng khu dân cư, trong các dân tộc, tôn giáo. Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận Tổ quốc và chính quyền các cấp phát động. Bảo đảm các tổ chức tôn giáo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận.
Đẩy mạnh vận động người Đắk Lắk ở nước ngoài gắn bó với quê hương, trở thành cầu nối giữa Việt Nam với các nước. Thu hút, tạo điều kiện để trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nhân, nhà khoa học, nhà quản lý người Đắk Lắk ở nước ngoài về đầu tư, sản xuất, kinh doanh, đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng tỉnh nhà.
2. Về phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường
Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Tập trung rà soát, sớm hoàn thành xây dựng và triển khai hiệu quả Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk (sau sắp xếp) thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, bảo đảm tính đồng bộ giữa các loại quy hoạch và phù hợp với định hướng phát triển vùng kinh tế-xã hội mới được hình thành trên cơ cơ sở vùng Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ; triển khai thực hiện hiệu quả các quy hoạch ngành, lĩnh vực của địa phương làm cơ sở để thu hút đầu tư, khai thác hiệu quả tiềm năng “1 tỉnh-2 sinh thái-đa lợi thế” để hình thành hành lang phát triển biển-cao nguyên, biên giới, phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh, các giá trị văn hóa, lịch sử và không gian phát triển mới.
Tổ chức triển khai có hiệu quả Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên và duyên hải Trung Bộ; Kết luận số 67-KL/TW, ngày 16/12/2019 về xây dựng và phát triển Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; chủ động phối hợp để khẩn trương đề xuất điều chỉnh Quy hoạch vùng và ban hành các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng để khai thác nguồn lực, lợi thế; phát triển các “chuỗi” giá trị nông sản, dịch vụ; phát triển kinh tế biển; khai thác hạ tầng kỹ thuật cảng, sân bay, nguồn nhân lực.
Quản lý chặt chẽ thu, chi ngân sách nhà nước. Tăng cường quản lý, chống thất thu, triển khai tốt các nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước, nhất là các nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ; tập trung tháo gỡ khó khăn để tăng thu ngân sách trên địa bàn. Thực hiện chi ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí, tiêu cực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính-ngân sách. Tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách theo hướng giảm tỷ trọng chi thường xuyên, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển gắn với đổi mới mạnh mẽ khu vực sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ và tinh giản bộ máy, biên chế; bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực hiện cải cách tiền lương và an sinh xã hội trên địa bàn.
Phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, tập trung quy mô lớn, hiệu quả bền vững, ưu tiên phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, đa giá trị, phát thải carbon thấp. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển mạnh ngành chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp (từ rừng trồng) và dịch vụ nông nghiệp. Chú trọng phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ và chuyển đổi số, gắn nông nghiệp với du lịch sinh thái, hướng đến hình thành các chuỗi giá trị, chế biến sâu và phát triển, bảo vệ thương hiệu sản phẩm nông sản đặc trưng của tỉnh, kết nối thị trường trong nước và xuất khẩu. Xây dựng thương hiệu cà-phê Buôn Ma Thuột, phát triển cà-phê đặc sản hướng đến mục tiêu “Đắk Lắk là điểm đến của cà-phê thế giới” và thương hiệu “Tôm hùm Phú Yên”. Duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống gắn với bảo vệ môi trường sinh thái bền vững. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi tập trung, quy mô lớn theo hướng xanh, tuần hoàn.
Phát triển các ngành công nghiệp động lực gắn với kinh tế biển, mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp hiện có theo mô hình kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế về năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió, điện mặt trời tiếp tục là động lực tăng trưởng của ngành công nghiệp. Tập trung thu hút đầu tư, phát triển các cụm liên kết ngành, nhất là liên kết giữa nông nghiệp, công nghiệp chế biến sâu sản phẩm nông-lâm-thủy sản và dịch vụ; phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp cơ khí chế tạo phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sản xuất năng lượng tái tạo quy mô lớn và một số ngành công nghiệp có tiềm năng, lợi thế mới như: luyện kim; lọc, hóa dầu; sản xuất sản phẩm công nghệ số, năng lượng hydro xanh...
Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, khai thác hiệu quả không gian phát triển mới. Tổ chức, sắp xếp hợp lý không gian, lãnh thổ, phát triển hệ thống đô thị trở thành các cực phát triển, trung tâm kinh tế của tỉnh, vùng; bố trí không gian phát triển các ngành dịch vụ liên kết hiệu quả với các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp gắn với các hành lang kinh tế Bắc-Nam, Đông-Tây, xây dựng tỉnh trở thành trung tâm giao thương và là một trong những cửa ngõ chiến lược của Tây Nguyên ra biển, tạo sự kết nối đồng bộ với các trung tâm kinh tế lớn trên cả nước. Ưu tiên bố trí nguồn lực cho công tác bảo trì, sửa chữa và nâng cấp cải tạo hệ thống quốc lộ được phân cấp trên địa bàn, đáp ứng nhu cầu vận tải và bảo đảm an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông; quan tâm đầu tư, thay thế các cầu yếu và cầu dân sinh khu vực miền núi. Nghiên cứu phát triển hạ tầng năng lượng, hạ tầng nhiên liệu, góp phần đáp ứng yêu cầu bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất lượng cao cho phát triển kinh tế-xã hội. Quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và ổn định tổ chức trung tâm hành chính cấp xã mới, đặc biệt là kết cấu hạ tầng phục vụ người dân và doanh nghiệp; phát huy tối đa lợi thế của địa phương. Thu hút các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong phát triển hạ tầng.
Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông gắn với dịch vụ logistics, hạ tầng đô thị thông minh, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ thông tin, đặc biệt là hệ thống giao thông kết nối, phát huy tối đa hiệu quả tuyến đường bộ cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột và đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông. Phát triển các tuyến đường ven biển; hoàn thành các tuyến đường liên kết vùng, các tuyến quốc lộ, tuyến tỉnh lộ; hoàn thiện tuyến liên kết vùng từ Cảng Bãi Gốc kết nối Quốc lộ 1 đi Khu kinh tế Vân Phong. Phối hợp nâng cấp cảng hàng không Tuy Hòa đạt tiêu chuẩn cảng hàng không quốc nội 4C, mở rộng sân bay Buôn Ma Thuột, tiến tới đủ điều kiện khai thác các chuyến bay quốc tế từ các quốc gia thị trường tiềm năng và kết nối với các cửa khẩu hàng không quốc tế như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng... Kiến nghị Trung ương ưu tiên huy động nguồn lực đầu tư tuyến đường bộ cao tốc Đông-Tây tỉnh Đắk Lắk, tuyến cao tốc Bắc-Nam phía Tây đoạn Pleiku-Buôn Ma Thuột-Gia Nghĩa. Phối hợp triển khai đầu tư xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam; xây dựng đường gom dọc đường sắt đoạn qua địa bàn tỉnh; nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền cập nhật, bổ sung quy hoạch tuyến đường sắt Tuy Hòa-Buôn Ma Thuột vào Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 để sớm đầu tư xây dựng dự án.
Huy động các nguồn lực để phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp; ưu tiên hoàn thiện hạ tầng khu, cụm công nghiệp, đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư. Nghiên cứu mở rộng các khu, cụm công nghiệp, trong đó có các khu công nghiệp trong Khu Kinh tế Nam Phú Yên. Tập trung kêu gọi các nhà đầu tư vào các khu chức năng; logistics, khu công nghiệp công nghệ cao, gắn với nghiên cứu sinh học và công nghệ chế biến nông, lâm sản, kết nối với hạ tầng giao thông cao tốc, cảng sân bay, cảng cạn, cảng nước sâu. Huy động các nguồn lực để từng bước triển khai đầu tư nâng cấp Khu bến Vũng Rô, xây dựng Khu bến Bãi Gốc và hạ tầng logistics cảng biển, sớm đưa vào khai thác và vận hành hiệu quả Cảng nước sâu Bãi Gốc; đầu tư xây dựng các cảng, bến thủy nội địa để phục vụ phát triển du lịch. Nghiên cứu thu hút đầu tư các công trình, dự án, cơ sở hạ tầng nhằm sớm khai thông Cửa khẩu Đắk Ruê-Chi Miết.
Phát triển công trình thủy lợi, phòng chống thiên tai kết hợp đồng bộ với công trình giao thông, công trình hạ tầng khác theo hướng hiệu quả, đa mục tiêu, bảo đảm an ninh nguồn nước. Nghiên cứu xây dựng mới các hồ chứa, đập dâng lớn có hiệu quả, ưu tiên triển khai đầu tư dự án hồ Krông Năng, Ea Khal và các hồ trọng điểm của tỉnh; cải tạo, nâng cấp sửa chữa, xây mới các công trình hồ chứa, đập dâng, hệ thống tự chảy và trạm bơm các loại tại các lưu vực sông Krông Ana, sông Sêrêpốk, sông Krông Nô, Krông Năng, Ea H’leo, sông Ba để phục vụ sinh hoạt, tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp. Nghiên cứu, đầu tư xây dựng các công trình phòng, chống lũ, ngập lụt kết hợp các giải pháp phi công trình đối với vùng thường xuyên xảy ra ngập lụt.
Tập trung phát triển thương mại theo hướng hiện đại, mở rộng hoạt động thương mại, liên kết thị trường trong và ngoài nước; chú trọng đầu tư nâng cấp và quản lý chặt chẽ hệ thống hạ tầng thương mại điện tử. Nâng cao chất lượng dịch vụ, phát huy các lợi thế so sánh, nâng cao giá trị gia tăng, đa dạng các loại hình dịch vụ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, tập trung vào các dịch vụ tiềm năng như logistics, dịch vụ cảng, vận tải biển, dịch vụ khoa học công nghệ, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục, kinh tế ban đêm, trung tâm xuất khẩu nông sản quy mô lớn (đặc biệt là cà-phê, sầu riêng và các nông sản thế mạnh khác) kết nối chặt chẽ với các cảng biển khu vực của phía Đông tỉnh; tham gia sâu vào chuỗi, mạng lưới phân phối hàng hóa nông sản quốc tế. Phát triển dịch vụ logistics gắn với Cảng hàng không Buôn Ma Thuột, Cảng hàng không Tuy Hòa, Cảng Vũng Rô, Cảng nước sâu Bãi Gốc, Cảng cạn Đông Hòa và Cảng cạn Krông Búk. Quan tâm kêu gọi đầu tư, hình thành một số trung tâm logistics và ICD bảo đảm kết nối đồng bộ với Trung tâm logistics của vùng.
Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có hệ thống cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch đồng bộ, hiện đại. Phát triển mạnh các sản phẩm du lịch chủ đạo, có lợi thế như du lịch sinh thái biển-rừng tại các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các vịnh, đảo; du lịch nghỉ dưỡng biển-rừng; phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng, nông nghiệp và nông thôn; trải nghiệm làm nghề truyền thống; du lịch tham quan di tích văn hóa, lịch sử cách mạng, danh lam thắng cảnh, tâm linh, lễ hội. Ưu tiên thu hút đầu tư hình thành một số khu du lịch tạo điểm nhấn mang tầm quốc gia và quốc tế tại Vịnh Xuân Đài, Gành Đá Đĩa, Vịnh Vũng Rô; nâng cấp hạ tầng khu du lịch Vườn quốc gia Yok Đôn, Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, phát triển khu vực Hồ Lắk, cao nguyên Vân Hòa trở thành khu du lịch quốc gia; xây dựng các khu công viên động vật hoang dã (safari); lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới Vườn quốc gia Yok Đôn; thu hút đầu tư các tổ hợp giải trí, nghỉ dưỡng quy mô lớn, trong đó có thu hút phát triển sân golf theo quy hoạch tỉnh.
Phát triển kinh tế biển bền vững, gắn với quy hoạch liên kết vùng và nhu cầu thực tế. Tập trung khai thác tiềm năng kinh tế biển khu vực ven biển Phú Yên-Vân Phong-Cam Ranh. Phát triển các ngành kinh tế biển có lợi thế như: nuôi trồng và chế biến thủy sản, du lịch biển, năng lượng tái tạo ven biển, vận tải biển-logistics và dịch vụ cảng; phát triển kinh tế biển-logistics-công nghiệp chế biến gắn với nội địa, phân cực không gian phát triển. Tăng cường đầu tư hạ tầng ven biển, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền, đê kè ven biển, Khu kinh tế Nam Phú Yên, tạo động lực phát triển vùng duyên hải gắn với vùng Tây Nguyên. Đầu tư, nâng cấp đồng bộ cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá; phát triển chế biến, tiêu thụ thủy sản trong mối liên kết chuỗi nuôi trồng, khai thác, chế biến, thương mại thủy sản để tăng kim ngạch xuất khẩu. Triển khai thực hiện hoàn thành các mục tiêu trong Đề án tổng thể phát triển ngành nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, trong đó tập trung sắp xếp lại và quản lý việc nuôi trồng thủy sản tại Vịnh Xuân Đài, Đầm Cù Mông, Đầm Ô Loan, Vũng Rô…
Chủ động rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách nâng cao hiệu quả quản lý, thực thi pháp luật, giải quyết có trọng tâm, trọng điểm những “điểm nghẽn” trong phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng cơ chế ưu đãi, thu hút nhà đầu tư chiến lược; phát triển nhiều mô hình doanh nghiệp tư nhân trong các lĩnh vực của tỉnh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, triển khai đồng bộ Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế, tập trung hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệp đầu tư, sản xuất kinh doanh và phát triển, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm, nâng cao năng suất; thúc đẩy hình thành các cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, doanh nghiệp dẫn dắt trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến, dịch vụ-du lịch và logistics. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thu hút đầu tư, tập trung huy động nguồn lực để phát triển các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh, các ngành có hàm lượng công nghệ cao, thân thiện môi trường, giá trị gia tăng cao.
Tập trung triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Phấn đấu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%. Tăng đầu tư ngân sách và đẩy mạnh thu hút nguồn lực trong xã hội cho đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhất là hạ tầng cho nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ. Đổi mới phương thức quản lý trên cơ sở xây dựng, kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, doanh nghiệp, đất đai, tài nguyên; gắn kết chặt chẽ chuyển đổi số với sắp xếp, tinh gọn bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tiến trình chuyển đổi số toàn diện, hiệu quả, thực chất, bền vững trên cả 3 trụ cột (chính quyền số, kinh tế số và xã hội số) và trên tất cả các lĩnh vực; xây dựng, phát triển khu vực Buôn Ma Thuột, Tuy Hoà theo hướng đô thị thông minh, trung tâm chuyển đổi số.
Thực hiện các phương án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, chặt chẽ; nâng cao năng lực, đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật phục vụ quản lý bảo vệ rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng. Hoàn thành đo đạc, cắm mốc, phân định ranh giới rừng; thu hồi đất lấn chiếm; xử lý dứt điểm các sai phạm liên quan đến quản lý rừng. Đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng thông qua các chính sách khuyến khích trồng rừng, bảo vệ rừng và phát triển các chuỗi liên kết từ rừng trồng đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm, áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến và hiệu quả nhằm giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Tăng cường công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh, nhất là đất do các nông, lâm trường, công ty nông lâm nghiệp quản lý, sử dụng; kiên quyết thu hồi diện tích sử dụng kém hiệu quả, bỏ hoang, bị lấn chiếm hoặc sử dụng không đúng quy định. Thực hiện tốt chính sách đất đai, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Thu hồi triệt để khoáng sản tại mỏ, cải tạo, phục hồi môi trường và sử dụng đất hợp lý tại các mỏ đã và đang khai thác. Khắc phục triệt để những hạn chế, yếu kém trong khâu quản lý tài nguyên, khoáng sản; nâng cao hiệu lực, hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về “Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
3. Phát triển văn hóa, xã hội và nguồn nhân lực; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân
Xây dựng con người Đắk Lắk phát triển toàn diện gắn với xây dựng, phát triển công dân số và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để người dân tham gia hiệu quả vào nền kinh tế số và xã hội số. Phổ cập kỹ năng số cho người dân nhằm xây dựng một xã hội số bao trùm, toàn diện. Xây dựng môi trường văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch; tiếp tục gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là di sản văn hóacồng chiêng Tây Nguyên. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu như: Nhà đày Buôn Ma Thuột, Khu căn cứ kháng chiến tỉnh Đắk Lắk (1965-1975), Thành An Thổ, Nhà thờ Bác Hồ, Bến Vũng Rô, Đền thờ Lê Thành Phương, Đền thờ Lương Văn Chánh… Nâng cao sức khỏe, tầm vóc cho người dân, phát triển thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao và chuyên nghiệp. Tăng cường đầu tư hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở. Ưu tiên bố trí quỹ đất và thu hút các nguồn lực xã hội hóa xây dựng, nâng cấp mở rộng một số công trình văn hóa và thể thao. Quan tâm kêu gọi đầu tư, phát triển khu liên hợp thể thao vùng; triển khai thực hiện hiệu quả Đề án Công viên địa chất hướng đến Công viên địa chất toàn cầu UNESCO; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành quy hoạch, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử.
Triển khai hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhằm tạo ra bước chuyển căn bản, toàn diện và thực chất cho sự nghiệp “trồng người”. Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục-đào tạo các cấp. Phát triển đào tạo theo hướng đồng bộ, tập trung, tinh gọn, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao. Tiếp tục sắp xếp lại trường, điểm trường, lớp học đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông. Quan tâm phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú. Tập trung các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị các trường học đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia. Đẩy mạnh liên kết các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp trong đào tạo nghề nghiệp; triển khai đào tạo nghề nghiệp theo hình thức đặt hàng; tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Nghiên cứu đầu tư xây dựng các trường đại học, cao đẳng của tỉnh phù hợp với khả năng ngân sách để từng bước trở thành cơ sở đào tạo có chất lượng, uy tín. Đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về giáo dục, đào tạo.
Triển khai thực hiện đồng bộ Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị về “Một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân”. Huy động tối đa các nguồn lực đầu tư cho cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân. Triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, chăm sóc sức khoẻ; quan tâm, phấn đấu cải thiện tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, nâng số giường bệnh, số bác sĩ trên một vạn dân, góp phần vào kết quả chung của cả nước. Đổi mới toàn diện nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ở tất cả các tuyến. Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế, bệnh viện và cơ sở đào tạo lớn trong nước. Nâng cao năng lực y tế dự phòng, công tác dân số, quản lý an toàn thực phẩm; phát huy y học cổ truyền và kết hợp Đông-Tây y. Tăng cường quản lý khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút đầu tư y tế tư nhân chất lượng cao, phát triển du lịch y tế. Quan tâm đầu tư nâng cấp các cơ sở khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Thu hút, kêu gọi đầu tư xây dựng các bệnh viện chuyên khoa chất lượng cao. Tăng cường đào tạo, thu hút nhân lực y tế chất lượng cao; cải thiện điều kiện làm việc và đãi ngộ cán bộ ngành y.
Thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập người dân và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo; hỗ trợ người dân có sinh kế bền vững thông qua đào tạo, chuyển đổi việc làm, nâng cao dân trí và chính sách tín dụng xã hội. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách đối với người có công và thân nhân theo quy định. Quan tâm nâng cấp, mở rộng và đầu tư trang thiết bị Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh; tập trung nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội các địa phương thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Quan tâm bố trí nguồn vốn ủy thác sang Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện đầu tư tín dụng đối với hộ nghèo và đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh thu hút đầu tư, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng mới các cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập.
Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực; cân đối, bố trí thêm nguồn ngân sách tỉnh và các nguồn ngân sách khác để đầu tư, hướng tới phát triển bền vững về kinh tế, văn hoá, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Phát huy tiềm năng, thế mạnh, bản sắc văn hóa của từng vùng dân tộc thiểu số trong tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nghiên cứu, xây dựng chính sách đặc thù dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
4. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, nhất là tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nâng cao năng lực, sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể, sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Xây dựng các tiềm lực trong khu vực phòng thủ tỉnh thật sự vững mạnh, toàn diện; thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương; hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, quy chế phối hợp hiệp đồng giữa lực lượng quân sự, công an, dân quân tự vệ và các lực lượng trong nắm tình hình, xử lý tình huống phức tạp về quốc phòng, an ninh; gắn quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, xã hội, đối ngoại của địa phương.
Tăng cường sức mạnh quốc phòng, phòng thủ dân sự, ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Thường xuyên cảnh giác, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống. Lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh toàn diện gắn sát mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, làm nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng nền an ninh nhân dân... nhất là trong đấu tranh bảo vệ biên giới quốc gia, chủ quyền biển đảo.
Thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân đội; quan tâm hỗ trợ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang về điều kiện làm việc, chế độ nhà ở chính sách, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; đào tạo nghề, tạo việc làm cho hạ sĩ quan, binh sĩ sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương, góp phần thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội, hậu phương quân đội.
Thường xuyên nắm chắc tình hình địa bàn, đối tượng; tăng cường công tác quản lý, giáo dục, cảm hóa đối tượng FULRO; chủ động triển khai có hiệu quả các biện pháp công tác phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; phát hiện, chủ động xử lý các loại tội phạm mới; xử lý triệt để tình trạng các tổ chức phản động, lưu vong sử dụng mạng Internet để tập huấn, trao đổi thông tin tuyên truyền, chống phá; giải quyết kịp thời các phát sinh phức tạp trong dân tộc, tôn giáo, nông thôn, đô thị theo phương châm “04 tại chỗ”, kiên quyết không để xảy ra khủng bố, biểu tình, bạo loạn, hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Đấu tranh có hiệu quả hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật, kiên quyết đấu tranh xóa bỏ đối với tà đạo, đạo lạ, hiện tượng tôn giáo mới, hoạt động “núp bóng” tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; tập trung triển khai quyết liệt, hiệu quả các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông, an toàn phòng cháy, chữa cháy.
Xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức theo hướng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu cao, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động lực lượng, phương tiện, phương án sẵn sàng ứng phó, tham gia chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn và khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, bão lũ.
Triển khai hiệu quả Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” và Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 10/8/2022 của Ban Bí thư về công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030. Tiếp tục quán triệt phương châm “Chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả”, bên cạnh việc mở rộng nâng cao chất lượng quan hệ với các đối tác cần chú trọng mục tiêu chính trị của hoạt động. Tăng cường nguồn lực cho công tác đối ngoại, nâng cao chất lượng nhận thức chính trị, trình độ năng lực cho cán bộ làm công tác đối ngoại. Thực hiện tốt công tác đối ngoại biên phòng và hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh để chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch. Tổ chức có hiệu quả các hoạt động ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế và đối ngoại Nhân dân để giới thiệu, quảng bá hình ảnh của tỉnh, của đất nước ra bên ngoài. Tích cực thực hiện các chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Tổ chức tốt các hoạt động trong tỉnh nhằm thu hút, động viên, kêu gọi bà con người Đắk Lắk ở trong và ngoài nước hướng về quê hương, chung tay xây dựng tỉnh Đắk Lắk ngày càng phát triển.
Năm năm của nhiệm kỳ Đại hội I sẽ là thời gian thử thách năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ; tinh thần, ý chí của cán bộ, đảng viên, quân và dân các dân tộc trong tỉnh, với những thách thức lớn cùng với những cơ hội, đòi hỏi cấp ủy Đảng, chính quyền phải chủ động và kịp thời nắm bắt, hành động quyết liệt để triển khai thực hiện. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 tin tưởng rằng, với tinh thần đồng tâm nhất trí, với ý chí cách mạng kiên cường, toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh nhất định vượt qua mọi khó khăn, thách thức, xây dựng Đắk Lắk phát triển nhanh, bền vững, văn minh, bản sắc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
***
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK KHÓA XVII, NHIỆM KỲ 2020-2025





