Trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân, Đại biểu quốc hội Việt Nam khóa XIII, XIV, XV đã phân tích những thành tựu kinh tế nổi bật, vai trò tiên phong của Thành phố Hồ Chí Minh và những bài học có ý nghĩa nền tảng cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Nhiều cải cách mang tầm quốc gia đều bắt nguồn từ các thí điểm thành công tại Thành phố Hồ Chí Minh
Phóng viên: Nhìn lại 40 năm Đổi mới, ông đánh giá đâu là những thành tựu kinh tế nổi bật nhất của đất nước, đặc biệt là vai trò đầu tàu của Thành phố Hồ Chí Minh?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân: Trong 40 năm Đổi mới, thành tựu quan trọng nhất là chúng ta đã từ bỏ tư duy kinh tế bao cấp, kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần. Nhờ đó, chúng ta đã huy động được sức dân, tổng hợp được nguồn lực của toàn xã hội và mở cửa hội nhập để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài từ năm 1987 đến nay.
Chính việc huy động hiệu quả cả nguồn lực trong nước và quốc tế đã giúp nền kinh tế từ tình trạng tăng trưởng thấp, có lúc suy thoái, vươn lên tăng trưởng khá cao trong suốt 40 năm, với tốc độ tăng trưởng 6,4-6,5%năm. GDP bình quân đầu người hơn 5.000 USD, chạm ngưỡng thu nhập trung bình cao. Đây là thành tựu rất quan trọng, tạo nền tảng để hướng tới mục tiêu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Trong tiến trình đó, Thành phố Hồ Chí Minh luôn giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước, là trung tâm lớn về tài chính, thương mại, dịch vụ, y tế, giáo dục và văn hóa. Thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp rất lớn cho ngân sách nhà nước, chiếm khoảng 27–30% tổng thu ngân sách quốc gia.
Suốt 40 năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh luôn là địa phương năng động, sáng tạo, đi đầu trong việc thử nghiệm các mô hình mới, cách làm mới, góp phần quan trọng vào quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Nhiều mô hình tiên phong của thành phố đã lan tỏa ra cả nước, tiêu biểu như phát triển kinh tế tư nhân, thị trường tài chính-ngân hàng.
Thành phố là nơi khởi xướng hoạt động giao dịch chứng khoán và hình thành trung tâm chứng khoán đầu tiên của Việt Nam; đi đầu trong việc xây dựng mô hình ngân hàng thương mại cổ phần từ cuối những năm 1980, như Eximbank, Ngân hàng Sài Gòn Công Thương, Ngân hàng phát triển nhà (nay là HDB) tạo tiền đề cho việc ban hành pháp lệnh và luật ngân hàng áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Các mô hình như “đổi đất lấy hạ tầng”, khu chế xuất, khu công nghiệp cũng được thí điểm thành công tại Thành phố Hồ Chí Minh trước khi nhân rộng.
Có thể khẳng định, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong việc tìm tòi mô hình mới, cách làm mới, vừa bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, vừa chủ động hội nhập quốc tế đã tạo nên cơ đồ, tiềm lực và vị thế quốc tế của Việt Nam hôm nay. Quy mô kinh tế dưới 10 tỷ USD từ những năm đầu đổi mới, sau 40 nay đã vượt trên 500 tỷ USD, đứng top 32 thế giới.
Phóng viên: Trong tiến trình Đổi mới, Thành phố Hồ Chí Minh được xem là địa phương tiên phong về tư duy và mô hình phát triển kinh tế. Theo ông, những yếu tố nào đã tạo nên vai trò tiên phong đó?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân: Muốn có đột phá phải hội tụ đủ điều kiện và mầm mống đổi mới. Sau khi giải phóng miền nam, Thành phố Hồ Chí Minh rơi vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu lương thực, đời sống người dân rất chật vật. Chính trong hoàn cảnh ấy đã xuất hiện những nhà lãnh đạo dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng chấp nhận kỷ luật để lo cho dân không bị đói.
Những đồng chí lãnh đạo như cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thể hiện rõ tinh thần đột phá đó. Điều này xuất phát từ truyền thống năng động, sáng tạo của thành phố anh hùng trong kháng chiến, luôn tìm tòi cách làm mới để đất nước giàu mạnh, độc lập, hạnh phúc và nâng cao đời sống nhân dân.
Yếu tố con người, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu, có ý nghĩa quyết định. Chính từ thực tiễn đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh với các mô hình khoán, tự chủ doanh nghiệp, liên kết sản xuất… đã tạo tiền đề và quyết tâm chính trị để đất nước bước vào công cuộc Đổi mới từ năm 1986.
Phóng viên: Từ thành công ở Thành phố Hồ Chí Minh, sự lan tỏa của các mô hình đổi mới này đã lan ra cả nước như thế nào, thưa ông?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân: Khi thành phố thực hiện khoán cho doanh nghiệp, khuyến khích tự chủ sản xuất-kinh doanh thay cho bao cấp, doanh nghiệp phải tự lo nguyên liệu, trả lương theo năng suất, hiệu quả. Những mô hình này nhanh chóng lan tỏa ra các địa phương khác, trở thành bài học thực tiễn để Trung ương nghiên cứu, hoàn thiện và ban hành Luật Doanh nghiệp.
Tương tự, việc thí điểm ngân hàng thương mại cổ phần, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước như Cơ điện lạnh, hay mô hình “đổi đất lấy hạ tầng” đã trở thành cơ sở thực tiễn cho các chính sách lớn sau này, như đầu tư theo hình thức PPP. Có thể nói, nhiều cải cách mang tầm quốc gia đều bắt nguồn từ các thí điểm thành công tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh đã kiên trì thực hiện các đột phá về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng
Phóng viên: Trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững hiện nay, theo ông, đâu là đột phá quan trọng nhất về thể chế mà Thành phố Hồ Chí Minh cần được trao quyền để tiếp tục giữ vai trò đầu tàu?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân: Thành phố Hồ Chí Minh hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng cao: vị trí địa kinh tế, tiềm năng kinh tế biển, hệ thống khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao từ các trường đại học và viện nghiên cứu, hệ thống tài chính-ngân hàng và thị trường chứng khoán phát triển.
Thành phố có tiềm năng lớn để phát triển trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm logistics gắn với Cần Giờ, Cái Mép-Thị Vải, khu thương mại tự do… Vì vậy, rất cần một thể chế thông thoáng, tương xứng với quy mô kinh tế và dân số của thành phố để bứt phá trong tương lai.
Việc Quốc hội ban hành các nghị quyết đặc thù như Nghị quyết 54, Nghị quyết 98, Nghị quyết 260/2025/QH15 sửa đổi Nghị quyết 98 về chính sách phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo cơ chế để thành phố huy động nguồn lực xã hội, nhất là trong bối cảnh ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 10% tổng vốn đầu tư xã hội.
Phóng viên: Theo ông, bài học lớn nhất từ thực tiễn đổi mới kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn đầu là gì, và bài học đó còn giá trị như thế nào hiện nay?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân: Bài học lớn nhất là người lãnh đạo phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và luôn đặt lợi ích chung, lợi ích của nhân dân lên trên hết. Khi làm được điều đó, các chủ trương, chính sách sẽ nhận được sự ủng hộ của nhân dân và đi vào cuộc sống.
Đến nay, bài học này vẫn còn nguyên giá trị. Đảng đã xác định ba đột phá chiến lược là thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng, và Thành phố Hồ Chí Minh đã kiên trì thực hiện các đột phá này trong suốt một thời gian dài.
Phóng viên: Trên cương vị đại biểu Quốc hội và nhà quản lý kinh tế, ông đã tham gia đóng góp như thế nào cho sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân: Tôi chủ yếu tham gia đóng góp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tham mưu cho các cơ quan của Quốc hội và Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh thông qua các hội thảo khoa học, nghiên cứu và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế của thành phố.
Phóng viên: Ông muốn gửi gắm thông điệp gì tới đội ngũ cán bộ, doanh nhân và nhà hoạch định chính sách trẻ?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân: Tôi rất tin tưởng thế hệ trẻ hôm nay. Họ được đào tạo trong môi trường hiện đại, hội nhập quốc tế, có lợi thế lớn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số.
Chỉ cần có sự tự tin, đam mê, tinh thần cống hiến vì cộng đồng và lòng yêu nước, thế hệ trẻ sẽ kế thừa và phát huy truyền thống đổi mới, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Đột phá thể chế cho kỷ nguyên vươn mình
Phóng viên: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đã nêu 5 bài học kinh nghiệm qua 40 năm Đổi mới, khẳng định đây là “hành trang đặc biệt quan trọng” để đất nước tiếp tục công cuộc đổi mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của những bài học này?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân: Những bài học đó đã được tổng kết qua nhiều chặng đường phát triển và nhiều hội thảo khoa học, thực tiễn. Đây là những bài học rất hữu ích, có ý nghĩa nền tảng, giúp chúng ta tiếp tục phát huy tiềm năng, lợi thế của đất nước, tạo động lực để tăng tốc phát triển trong giai đoạn tới.
Theo tôi, điều quan trọng nhất là trong thời gian gần đây, đặc biệt từ năm 2025, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, mang tính định hướng lâu dài, thực sự là kim chỉ nam cho sự phát triển. Các nghị quyết như Nghị quyết 57, 59, 66, 68… đều rất cần thiết và có giá trị cho chặng đường phát triển mới. Vấn đề then chốt là thể chế hóa, và trên thực tế, Quốc hội đã chủ động, tích cực thể chế hóa các Nghị quyết này để đưa vào cuộc sống.
Tôi tin rằng, với định hướng đúng đắn đó, mục tiêu xây dựng đất nước phát triển, có thu nhập cao, phồn thịnh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu hoàn toàn có thể đạt được trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, những nền tảng được xây dựng trong suốt 40 năm qua – từ kết cấu hạ tầng đến thể chế – đang ngày càng được củng cố. Trong 5 năm gần đây, chúng ta đã tập trung đầu tư mạnh cho hạ tầng giao thông, hạ tầng xã hội, cả đường bộ, ven biển, đường sắt đô thị và các cảng hàng không quốc tế. Đồng thời, xác định “thể chế là điểm nghẽn của các điểm nghẽn”, chúng ta đã từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn để hệ thống thể chế ngày càng thông thoáng hơn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Đây chính là nền tảng quan trọng để đất nước tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Phóng viên: Theo ông, những bài học kinh nghiệm này sẽ được chuyển hóa như thế nào thành các định hướng, mục tiêu và giải pháp cụ thể trong nhiệm kỳ Đại hội XIV?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân: Chúng ta có thể thấy rất rõ quá trình chuyển hóa đó. Chẳng hạn, từ các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội đã ban hành nhiều Luật và Nghị quyết để cụ thể hóa. Chỉ trong 5 năm qua, Quốc hội đã ban hành hơn 150 Luật và 49 Nghị quyết có tính chất quy phạm pháp luật. Riêng thời gian gần đây đã thông qua trên 50 Luật và khoảng 40 Nghị quyết. Điều đó cho thấy Quốc hội đã đồng hành rất sát với Chính phủ trong quá trình thể chế hóa các chủ trương của Đảng.
Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện. Muốn đưa nghị quyết và thể chế đi vào cuộc sống thì cần đội ngũ cán bộ, lãnh đạo đủ năng lực, bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của đất nước. Nếu làm được điều đó, tôi tin chắc rằng các mục tiêu phát triển mà Đại hội XIV đề ra sẽ sớm trở thành hiện thực.
Xin cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân!






