Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Hệ thống nghị quyết kiến tạo mô hình phát triển mới cho Việt Nam

Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng

Khẳng định thực thi là “khâu quyết định”, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh, để các nghị quyết tạo ra hiệu quả trong thực tiễn, điều cốt lõi là phải xây dựng được cơ chế thực thi mạnh, văn hóa hành động quyết liệt và hệ thống trách nhiệm minh bạch, rõ ràng.

Từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành 8 nghị quyết có ý nghĩa chiến lược trên hầu hết các lĩnh vực then chốt của đất nước. Việc ra đời của các nghị quyết quan trọng là một bước sắp xếp chiến lược có chủ đích, thể hiện quyết tâm rất cao của Đảng trong việc chuẩn bị đầy đủ điều kiện để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội về ý nghĩa của việc ra đời các nghị quyết này.

Các nghị quyết kiến tạo một mô hình phát triển mới cho Việt Nam

Phóng viên: Thưa Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, vì sao có thể khẳng định các nghị quyết lần này không phải là những chính sách đơn lẻ, mà là một hệ thống chiến lược tổng thể cho phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam?

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Có thể khẳng định, các nghị quyết lần này không phải là những chính sách đơn lẻ, bởi chúng được hình thành trên một tư duy chiến lược thống nhất và có tính hệ thống rất cao, nhằm kiến tạo một mô hình phát triển mới cho Việt Nam trong trung và dài hạn.

Nhìn tổng thể, các nghị quyết này bao phủ gần như đầy đủ những trụ cột nền tảng nhất của phát triển quốc gia. Nghị quyết về khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo ra động lực phát triển mới; nghị quyết về hội nhập quốc tế mở rộng không gian phát triển; nghị quyết về đổi mới xây dựng và thi hành pháp luật giữ vai trò “mở khóa” thể chế; nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân khơi dậy nguồn lực xã hội; cùng với các nghị quyết về năng lượng, y tế và giáo dục- những lĩnh vực vừa là hạ tầng phát triển, vừa là nền tảng bảo đảm an ninh con người và chất lượng tăng trưởng trong dài hạn.

Điều quan trọng là, các nghị quyết này không tồn tại biệt lập, mà được thiết kế để liên thông, bổ trợ và cộng hưởng lẫn nhau. Thể chế tốt tạo điều kiện cho khoa học-công nghệ và kinh tế tư nhân phát triển; khoa học- công nghệ và chuyển đổi số nâng cao hiệu quả hội nhập; hội nhập mở rộng thị trường và chuẩn mực cho cải cách trong nước; còn năng lượng, giáo dục, y tế bảo đảm tính bền vững, bao trùm và khả năng chống chịu của nền kinh tế-xã hội.

Đồng thời, cần thấy rằng các nghị quyết này nằm trong một chỉnh thể nghị quyết lớn hơn, cùng với các nghị quyết quan trọng khác về phát triển kinh tế nhà nước, về văn hóa và xây dựng con người Việt Nam. Tất cả hợp thành một kiến trúc chiến lược tổng thể, trong đó kinh tế là trung tâm, thể chế là then chốt, khoa học-công nghệ là động lực, văn hóa là nền tảng tinh thần, và con người là chủ thể của phát triển.

Chính vì vậy, có thể nói đây không phải là những phản ứng chính sách rời rạc, mà là một bước sắp xếp chiến lược có chủ đích, thể hiện quyết tâm rất cao của Đảng trong việc chuẩn bị đầy đủ điều kiện để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Việc ra đời các Nghị quyết là một bước sắp xếp chiến lược có chủ đích, thể hiện quyết tâm rất cao của Đảng trong việc chuẩn bị đầy đủ điều kiện để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Phóng viên: Trong các nghị quyết, hoàn thiện thể chế được đặt ở vị trí “đột phá của đột phá”; xin Tiến sĩ có thể phân tích rõ vai trò nền tảng của thể chế đối với các động lực tăng trưởng còn lại?

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Việc hoàn thiện thể chế được đặt ở vị trí “đột phá của đột phá” là một lựa chọn có cơ sở lý luận và thực tiễn rất vững chắc. Bởi suy cho cùng, thể chế chính là “hệ điều hành” của nền kinh tế-xã hội: nếu hệ điều hành không thông suốt, thì dù có nhiều nguồn lực, nhiều động lực, cũng khó chuyển hóa thành tăng trưởng thực chất và bền vững.

Trước hết, thể chế quyết định khả năng giải phóng và phân bổ hiệu quả các nguồn lực. Khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo hay chuyển đổi số chỉ có thể phát triển mạnh khi quyền sở hữu được bảo đảm, quyền tự do kinh doanh được tôn trọng, rủi ro pháp lý được kiểm soát và chi phí tuân thủ được giảm thiểu. Một thể chế minh bạch, ổn định và có thể dự đoán chính là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn và chấp nhận rủi ro đổi mới.

Thứ hai, thể chế giữ vai trò kết nối và khuếch đại các động lực tăng trưởng khác. Kinh tế tư nhân chỉ có thể trở thành một động lực quan trọng khi thể chế bảo đảm cạnh tranh bình đẳng; hội nhập quốc tế chỉ phát huy hiệu quả khi pháp luật trong nước tương thích với các chuẩn mực quốc tế; còn phát triển năng lượng, giáo dục, y tế muốn bền vững thì phải dựa trên các cơ chế chính sách rõ ràng, ổn định và có tính khuyến khích.

Quan trọng hơn, thể chế không chỉ là “khung luật lệ”, mà còn là năng lực tổ chức thực thi và năng lực quản trị quốc gia. Một chính sách dù đúng đến đâu, nếu thể chế thực thi yếu, phân công- phân cấp không rõ ràng, trách nhiệm không gắn với quyền hạn, thì hiệu quả cũng sẽ bị triệt tiêu. Vì vậy, đổi mới thể chế thực chất là đổi mới cách Nhà nước kiến tạo phát triển và phục vụ Nhân dân.

Có thể nói, khi thể chế được hoàn thiện và vận hành thông suốt, các động lực tăng trưởng khác sẽ không còn phát triển rời rạc, mà được liên kết thành một chỉnh thể đồng bộ. Chính vì vậy, coi hoàn thiện thể chế là “đột phá của đột phá” không chỉ là một lựa chọn đúng, mà là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tạo ra những bước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Nghị quyết về khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xem là động lực trung tâm cho tăng trưởng mới; điểm mới căn bản trong tư duy và cách triển khai nghị quyết này là gì?

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Nghị quyết về khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xem là động lực trung tâm cho tăng trưởng mới bởi điểm mới căn bản của nghị quyết này nằm ở sự thay đổi sâu sắc trong tư duy phát triển và cách thức tổ chức thực hiện.

Về tư duy, lần đầu tiên khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn được nhìn nhận như những lĩnh vực hỗ trợ, mà được đặt ở vị trí trụ cột tạo ra năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nghị quyết chuyển trọng tâm từ “theo kịp” sang “bứt phá”, từ tiếp nhận công nghệ sang làm chủ công nghệ, từ ứng dụng rời rạc sang xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với doanh nghiệp, thị trường và nhu cầu thực tiễn của phát triển đất nước.

Về cách triển khai, điểm mới rất quan trọng là chuyển mạnh từ cơ chế quản lý sang cơ chế kiến tạo và khuyến khích. Nghị quyết nhấn mạnh việc tháo gỡ các rào cản thể chế, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới, đồng thời gắn khoa học-công nghệ với yêu cầu nâng cao năng lực quản trị quốc gia, quản trị doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ công.

Đặc biệt, chuyển đổi số trong nghị quyết này không chỉ dừng ở ứng dụng công nghệ, mà được tiếp cận như một quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức vận hành của nền kinh tế và bộ máy nhà nước, từ sản xuất, kinh doanh đến quản lý xã hội và cung cấp dịch vụ công. Khi dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng, thì đổi mới sáng tạo không còn là việc của riêng giới khoa học, mà trở thành động lực lan tỏa trong toàn xã hội.

Có thể nói, điểm mới căn bản của nghị quyết là đã tạo ra một khung tư duy phát triển hiện đại, trong đó khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được kết nối chặt chẽ với cải cách thể chế, phát triển doanh nghiệp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây chính là nền tảng để Việt Nam hình thành các động lực tăng trưởng mới có chiều sâu, bền vững và có khả năng cạnh tranh trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Việc phát triển kinh tế tư nhân, bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (giáo dục-đào tạo, y tế) sẽ hỗ trợ, bổ sung cho nhau như thế nào trong thực tiễn?

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Trong thực tiễn phát triển, kinh tế tư nhân, an ninh năng lượng và chất lượng nguồn nhân lực không tồn tại như những lĩnh vực độc lập, mà liên kết chặt chẽ và bổ sung cho nhau, tạo thành một “tam giác động lực” có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng nhanh và bền vững.

Trước hết, kinh tế tư nhân chỉ có thể phát triển mạnh và đầu tư dài hạn khi được bảo đảm nguồn năng lượng ổn định, an toàn và có chi phí hợp lý, đồng thời có khả năng tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao. An ninh năng lượng vì thế không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là điều kiện nền tảng để doanh nghiệp yên tâm mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Ngược lại, chính sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân lại tạo ra nguồn lực xã hội quan trọng để đầu tư cho năng lượng, giáo dục và y tế. Doanh nghiệp tư nhân không chỉ là người thụ hưởng, mà ngày càng trở thành đối tác đồng hành của Nhà nước trong phát triển hạ tầng năng lượng, đào tạo nhân lực, nghiên cứu- phát triển và cung cấp các dịch vụ giáo dục, y tế chất lượng cao cho xã hội.

Bên cạnh đó, giáo dục- đào tạo và y tế giữ vai trò nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sức khỏe và năng lực sáng tạo của con người- yếu tố quyết định năng suất lao động và sức cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế. Một lực lượng lao động được đào tạo tốt, khỏe mạnh và thích ứng nhanh sẽ giúp khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững hơn, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch sang các ngành kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế tri thức.

Có thể nói, khi ba lĩnh vực này được phát triển đồng bộ và được kết nối bằng một thể chế phù hợp, chúng sẽ tạo ra hiệu ứng cộng hưởng rất mạnh: kinh tế tư nhân lớn lên nhờ năng lượng ổn định và nhân lực chất lượng; năng lượng và nhân lực được củng cố nhờ nguồn lực và sáng tạo của doanh nghiệp; còn Nhà nước tập trung vào vai trò kiến tạo, điều tiết và bảo đảm công bằng. Đây chính là cách thức để Việt Nam xây dựng một nền kinh tế tự chủ, hiện đại và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Việc thực thi Nghị quyết phải theo kịp yêu cầu của tư duy chiến lược

Phóng viên: Theo ông, yếu tố then chốt nào quyết định thành công của việc tổ chức thực hiện các nghị quyết để tạo ra chuyển biến rõ rệt trong thời gian tới, tránh tình trạng nghị quyết tốt nhưng hiệu quả chưa cao?

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, yếu tố then chốt quyết định thành công của việc tổ chức thực hiện các nghị quyết không nằm ở việc ban hành thêm chính sách mới, mà ở năng lực tổ chức thực thi và kỷ luật hành động trong toàn bộ hệ thống. Thực tiễn cho thấy, nhiều chủ trương rất đúng, rất trúng, nhưng khi đi vào triển khai lại chậm chuyển hóa thành kết quả cụ thể, chủ yếu do khâu thực hiện chưa theo kịp yêu cầu của tư duy chiến lược.

Trước hết, cần chuyển mạnh từ tư duy ban hành nghị quyết sang tư duy thực thi nghị quyết, coi kết quả cuối cùng là thước đo đánh giá năng lực của tổ chức và cá nhân. Điều này đòi hỏi phải xác định rõ mục tiêu ưu tiên, lộ trình cụ thể, phân công trách nhiệm gắn với quyền hạn, và thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát dựa trên kết quả, chứ không chỉ dựa trên quy trình.

Thứ hai, yếu tố quyết định là sự đồng bộ và liên thông trong triển khai. Các nghị quyết chỉ có thể phát huy đầy đủ hiệu quả khi được thực hiện như một chỉnh thể, tránh tình trạng mỗi bộ, mỗi ngành, mỗi địa phương triển khai theo cách riêng, thiếu phối hợp và thiếu cộng hưởng. Vai trò điều phối thống nhất, đặc biệt ở cấp Trung ương, là hết sức quan trọng để bảo đảm các chính sách không “triệt tiêu lẫn nhau”.

Quan trọng hơn, thành công của việc tổ chức thực hiện còn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Khi cán bộ được trao quyền rõ ràng, được bảo vệ khi hành động vì lợi ích chung, đồng thời bị ràng buộc bởi trách nhiệm giải trình nghiêm minh, thì nghị quyết mới thực sự đi vào cuộc sống.

Có thể nói, để tránh tình trạng “nghị quyết tốt nhưng hiệu quả chưa cao”, điều cốt lõi là phải tạo ra một cơ chế thực thi hiệu quả, một văn hóa hành động quyết liệt và một hệ thống trách nhiệm rõ ràng. Khi đó, các nghị quyết chiến lược mới thực sự trở thành động lực tạo ra những chuyển biến rõ rệt và bền vững trong thời gian tới.

Để tránh tình trạng “nghị quyết tốt nhưng hiệu quả chưa cao”, điều cốt lõi là phải tạo ra một cơ chế thực thi hiệu quả, một văn hóa hành động quyết liệt và một hệ thống trách nhiệm rõ ràng. Khi đó, các nghị quyết chiến lược mới thực sự trở thành động lực tạo ra những chuyển biến rõ rệt và bền vững trong thời gian tới.

Phóng viên: Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, các nghị quyết chiến lược này đặt Việt Nam vào vị thế nào trên bản đồ phát triển và hội nhập quốc tế?

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng và chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái cấu trúc sâu sắc, 7 nghị quyết chiến lược lần này có ý nghĩa như một bước tái định vị vị thế phát triển và hội nhập của Việt Nam trên bản đồ kinh tế- chính trị quốc tế.

Trước hết, các nghị quyết này giúp Việt Nam chuyển từ vị thế chủ yếu dựa vào lợi thế chi phí sang vị thế dựa trên chất lượng thể chế, năng lực đổi mới sáng tạo và độ tin cậy của môi trường đầu tư. Việc đồng thời thúc đẩy cải cách thể chế, phát triển khoa học – công nghệ, kinh tế tư nhân, năng lượng, giáo dục và y tế cho thấy Việt Nam không chỉ muốn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, mà hướng tới tham gia ở những khâu có giá trị gia tăng cao hơn và bền vững hơn.

Thứ hai, thông qua nghị quyết về hội nhập quốc tế, Việt Nam khẳng định tư thế chủ động, tự tin và có chọn lọc trong hội nhập, vừa tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, vừa giữ vững độc lập, tự chủ và khả năng tự cường của nền kinh tế. Điều này giúp Việt Nam trở thành một đối tác tin cậy, ổn định và có trách nhiệm, nhất là trong bối cảnh nhiều chuỗi cung ứng đang tìm kiếm những điểm đến an toàn, minh bạch và có năng lực thích ứng cao.

Quan trọng hơn, 7 nghị quyết này đặt Việt Nam vào vị thế một quốc gia đang chuyển mình từ “điểm đến sản xuất” sang “đối tác phát triển”, từ hội nhập thụ động sang đóng góp tích cực vào việc định hình các chuẩn mực và không gian hợp tác mới. Khi thể chế được hoàn thiện, nguồn nhân lực được nâng cao và động lực đổi mới được khơi thông, Việt Nam có đủ nền tảng để tham gia sâu hơn vào các mạng lưới kinh tế, khoa học và công nghệ khu vực và toàn cầu.

Có thể nói, trong một thế giới đầy bất định, 7 nghị quyết chiến lược này giúp Việt Nam tăng sức đề kháng trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời nâng cao vị thế quốc gia, tạo tiền đề để đất nước hội nhập sâu rộng hơn nhưng vững vàng hơn, chủ động hơn và tự tin hơn trong giai đoạn phát triển sắp tới.

Xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng!

HỒNG VÂN-THIÊN LAM

Đại hội đảng toàn quốc
Ban chấp hành
Tổng Bí thư
Bộ Chính trị
Ban Bí thư
Uỷ viên TW
Uỷ viên dự khuyết
<iframe src="https://daihoidangtoanquoc.vn/embed/congress?congress=xiv" height="400" width="100%" frameborder="0" scrolling="no" marginheight="0" marginwidth="0"></iframe>
Copy mã nhúng