BÁO CÁO CHÍNH TRỊ
CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ MẶT TRẬN TỔ QUỐC, CÁC ĐOÀN THỂ TRUNG ƯƠNG NHIỆM KỲ 2020-2025 TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ MẶT TRẬN TỔ QUỐC, CÁC ĐOÀN THỂ TRUNG ƯƠNG LẦN THỨ I, NHIỆM KỲ 2025-2030
“Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức lãnh đạo; tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng lòng, chung sức bước vào kỷ nguyên phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”
-----------
Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương (Đảng bộ) trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được thành lập theo Quyết định số 245-QĐ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị. Hiện nay, Đảng bộ có 25 tổ chức đảng trực thuộc, gồm 4 đảng bộ cấp trên cơ sở, 13 đảng bộ cơ sở và 8 chi bộ cơ sở với 5.146 đảng viên.
Đại hội đại biểu Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương nhiệm kỳ 2025-2030 là Đại hội đầu tiên theo mô hình tổ chức mới. Đại hội diễn ra trong thời điểm quân và dân ta đang quyết tâm hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 và phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước. Với phương châm: “Đoàn kết-Dân chủ-Đổi mới-Sáng tạo-Phát triển”, Đại hội có nhiệm vụ đánh giá kết quả công tác nhiệm kỳ 2020-2025; đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2025-2030 và thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Nhiệm kỳ qua, mặc dù tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, ở trong nước cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do bị tác động bởi những yếu tố bất lợi từ bên ngoài, cũng như ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ… song toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đạt nhiều kết quả quan trọng trên cả ba trụ cột: chính trị, kinh tế và xã hội.
Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã chủ động triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Từ tháng 1 năm 2025, nhằm tạo lập cơ chế lãnh đạo toàn diện, tập trung, thống nhất đối với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, Bộ Chính trị ban hành quyết định thành lập Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương. Đây là chủ trương có ý nghĩa chiến lược quan trọng, là quyết sách mang tính đột phá nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong triển khai nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ và công tác quần chúng trong tình hình mới.
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, cấp ủy các cấp đã quán triệt sâu sắc chủ trương, quan điểm Đại hội XIII của Đảng; nghị quyết, kết luận, chỉ thị, chỉ đạo của Trung ương; nghị quyết đại hội đảng bộ cấp trên; cấp ủy các cấp (trước kia) và Đảng ủy hiện nay đã bám sát thực tiễn, triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị, trọng tâm là lãnh đạo, chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ phát huy vai trò nòng cốt để nhân dân làm chủ, tập hợp, vận động, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đạt được một số kết quả nổi bật như sau:
1. Kết quả tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, đồng thuận xã hội
Nhiệm kỳ qua, cấp ủy các cấp trong toàn Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát công tác tập hợp, vận động và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ đó, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc được khơi dậy và lan tỏa mạnh mẽ; khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố vững chắc; mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân ngày càng bền chặt. Nhân dân ngày càng tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thuận và tích cực tham gia thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn, đóng góp công sức phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Các giai cấp, tầng lớp và lực lượng trong xã hội tiếp tục phát huy vai trò, trách nhiệm, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển bền vững của đất nước, khẳng định vị thế, vai trò to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới.
Giai cấp công nhân: với hơn 15 triệu người, chiếm khoảng 14,97% dân số cả nước, là lực lượng nòng cốt đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trình độ tay nghề, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm với xã hội từng bước được nâng cao; đóng góp xứng đáng vào tăng trưởng kinh tế, ổn định và phát triển đất nước.
Giai cấp nông dân: có khoảng 9,1 triệu hộ, chiếm trên 49,17% số hộ ở nông thôn và chiếm 1/3 dân số cả nước, là lực lượng xã hội to lớn, giữ vai trò chủ thể, trung tâm trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Nông dân đang từng bước thích ứng với yêu cầu sản xuất hàng hóa lớn, đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ, nâng cao năng suất lao động; đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được cải thiện.
Đội ngũ trí thức: có khoảng 11,7 triệu người, chiếm 11,6% dân số cả nước, giữ vai trò nòng cốt trong nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo, phổ biến kiến thức, tư vấn, phản biện xã hội, hội nhập quốc tế; khát khao cống hiến tài năng, trí tuệ phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Doanh nhân Việt Nam: có khoảng 10 triệu người, chiếm khoảng 9,97% dân số cả nước, trong đó gần 3 triệu người là lãnh đạo doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, là một trong những lực lượng nòng cốt góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; trình độ quản trị, năng lực cạnh tranh ngày càng được nâng cao, có khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Thanh niên Việt Nam: với hơn 20 triệu người, chiếm khoảng 19,8% dân số cả nước, là lực lượng xung kích, tiên phong, sáng tạo trong phát triển đất nước; được giác ngộ lý tưởng cách mạng, mong muốn được đứng vào hàng ngũ của Đảng, kế tục sự nghiệp cách mạng.
Phụ nữ Việt Nam: với hơn 50,7 triệu người, chiếm 50,2% dân số cả nước, có nhiều đóng góp trong phát triển kinh tế-xã hội, giữ gìn, phát huy giá trị gia đình, tham gia quản lý cộng đồng và thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới.
Cựu chiến binh: với hơn 3 triệu hội viên, chiếm gần 3% dân số cả nước và Cựu công an nhân dân: với hơn 140 ngàn hội viên, là lực lượng gương mẫu, đi đầu trong vận động nhân dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa; góp phần củng cố quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Lực lượng vũ trang nhân dân: tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, thành quả cách mạng và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.
Người cao tuổi: gần 16 triệu người, chiếm gần 16% dân số cả nước, có vai trò quan trọng trong gia đình, xã hội; luôn gương mẫu, đi đầu trong các hoạt động ở cộng đồng; động viên, giáo dục con cháu tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc; động viên nhau sống vui, sống khỏe, sống có ích.
Đồng bào dân tộc thiểu số: có khoảng 14,3 triệu người, chiếm 14,2% dân số cả nước, là lực lượng quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, giữ gìn văn hóa dân tộc, an ninh quốc gia, nhất là ở vùng biên giới, hải đảo.
Đồng bào theo tôn giáo: với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm 26,97% dân số, luôn đồng hành cùng dân tộc, sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hoạt động từ thiện, nhân đạo.
Người khuyết tật Việt Nam: với hơn 6 triệu người, chiếm khoảng 5,97% dân số cả nước, là bộ phận cần được quan tâm đặc biệt trong các chính sách phát triển toàn diện và bao trùm; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, vượt lên hoàn cảnh, góp phần xây dựng xã hội công bằng, nhân văn, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Người Việt Nam ở nước ngoài: có khoảng gần 6 triệu người đang sinh sống, lao động, học tập tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, có nhiều hoạt động hướng về Tổ quốc, đóng góp tích cực về tri thức, nguồn lực và quảng bá hình ảnh đất nước.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chủ động phối hợp với các tổ chức thành viên tập hợp, vận động, quy tụ các tầng lớp nhân dân; triển khai hiệu quả các chương trình, phong trào, đồng thời lắng nghe, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của Nhân dân, góp phần củng cố niềm tin, làm cầu nối vững chắc tăng cường sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp ngày càng làm tốt hơn vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên và nhân dân; thúc đẩy thực hiện dân chủ ở cơ sở, góp phần tăng cường đồng thuận xã hội.
2. Kết quả thực hiện các phong trào thi đua yêu nước
Trong nhiệm kỳ qua, các cấp ủy đã lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ triển khai đồng bộ, hiệu quả các chương trình hành động, phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn theo hướng đổi mới mạnh mẽ về nội dung, phương thức, hướng mạnh về cơ sở, phù hợp với thực tiễn, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong xã hội.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” tiếp tục được triển khai sâu rộng, hiệu quả, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã chủ trì, phối hợp với chính quyền, các tổ chức thành viên và toàn dân triển khai đồng bộ 5 nội dung của phong trào gắn với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Hằng năm, có trên 90% khu dân cư đăng ký và tổ chức thực hiện hiệu quả; tỷ lệ khu dân cư đạt danh hiệu văn hóa tăng ổn định; hạ tầng nông thôn được cải thiện; tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt; nhiều mô hình tự quản ở cộng đồng được nhân rộng. Phát huy vai trò là trung tâm liên hiệp, tập hợp ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã vận động Nhân dân đóng góp hàng chục nghìn tỷ đồng, hàng triệu ngày công lao động, hiến đất và tài sản để xây dựng đường giao thông, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn, nâng cao chất lượng đô thị, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững. Thông qua việc xây dựng và nhân rộng các mô hình “Khu dân cư tiêu biểu”, “Gia đình văn hóa”, “Tuyến phố văn minh”, “Vườn mẫu”, “Đường hoa tự quản”, phong trào đã trở thành động lực lan tỏa lối sống tốt đẹp, phát huy tính tích cực và vai trò chủ thể của Nhân dân trong phát triển cộng đồng. Nhiều nơi đã lồng ghép có hiệu quả phong trào với chương trình xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn và đô thị.
Công tác động viên các tầng lớp nhân dân thi đua, sáng tạo, thực hiện hiệu quả các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước là một trong 6 chương trình hoạt động trọng tâm của Mặt trận và các tổ chức thành viên: Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” (78% số xã đạt chuẩn nông thôn mới), “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” (hơn 12.000 sản phẩm OCOP được công nhận), “Vì người nghèo-Không để ai bị bỏ lại phía sau” (mỗi năm vận động hàng nghìn tỷ đồng), “Đoàn kết sáng tạo” (hằng năm công bố Sách vàng Sáng tạo Việt Nam, giới thiệu 70-100 công trình tiêu biểu). Cấp ủy các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã chỉ đạo triển khai hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, bám sát đặc điểm đối tượng đoàn viên, hội viên như: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tập trung đẩy mạnh phong trào “Lao động giỏi-Lao động sáng tạo”, “Tham mưu giỏi, phục vụ tốt”, thi đua hưởng ứng các phong trào do Thủ tướng Chính phủ phát động: Chương trình “75 nghìn sáng kiến vượt khó, phát triển”, Chương trình “1 triệu sáng kiến, nỗ lực vượt khó, sáng tạo quyết tâm chiến thắng đại dịch Covid-19”, phong trào thi đua xây dựng đường dây 500KV mạch 3 từ Quảng Trạch (Quảng Bình) đến Phố Nối (Hưng Yên)…; Hội Nông dân Việt Nam với phong trào “Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”, bảo vệ môi trường nông thôn; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với phong trào “Xây dựng người phụ nữ thời đại mới”, cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, “Phụ nữ khởi nghiệp sáng tạo”; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với các phong trào “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”; Hội Cựu chiến binh Việt Nam với các phong trào “Cựu chiến binh gương mẫu”, “Giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi”; cấp ủy các hội quần chúng như Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Khuyến học Việt Nam, Hội Người cao tuổi Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hội Người mù Việt Nam, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam… tích cực triển khai các hoạt động xã hội, nhân đạo, bảo vệ quyền lợi hội viên, chăm lo người yếu thế.
Các cấp ủy, tổ chức đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác an sinh xã hội và xóa nhà tạm, nhà dột nát, đã vận động xây dựng, sửa chữa hơn 180.000 căn nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo. Riêng Chương trình làm nhà cho hộ nghèo tỉnh Điện Biên đã huy động nguồn lực xây dựng trên 5.000 căn nhà được ghi nhận là điểm sáng về tổ chức thực hiện, hiệu quả và tạo sức lan tỏa. Công tác phòng, chống thiên tai, bão lũ có nhiều cách làm mới, hiệu quả: trong đợt bão số 3 năm 2024, Mặt trận đã kêu gọi toàn dân ủng hộ được 1.845 tỷ đồng để cứu trợ khẩn cấp cho 26 tỉnh, thành phía Bắc. Lần đầu tiên công khai “sao kê” Quỹ Cứu trợ Trung ương, kịp thời phân bổ kinh phí hỗ trợ nhân dân vùng bị thiệt hại, thể hiện tinh thần trách nhiệm, công khai, minh bạch, nhận được đồng thuận cao của xã hội. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã phát động ủng hộ nhân dân Cuba nhân dịp “Năm Hữu nghị Việt Nam-Cuba 2025” và kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (1960-2025) với số tiền hơn 400 tỷ đồng (đến ngày 5/9/2025). Mặt trận và các tổ chức thành viên tích cực tham gia công tác phòng, chống dịch Covid-19: toàn hệ thống Mặt trận đã vận động ủng hộ hơn 23.000 tỷ đồng qua Quỹ vaccine, thiết bị y tế, nhu yếu phẩm; phát huy vai trò các tổ Covid cộng đồng, tình nguyện viên; các tổ chức tôn giáo, hội quần chúng, giới văn nghệ sĩ... đồng hành tích cực, lan tỏa tinh thần đoàn kết, trách nhiệm xã hội.
3. Kết quả thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của các cấp ủy đảng, công tác giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ được đẩy mạnh, ngày càng thực chất, hiệu quả, nền nếp, phát huy vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân góp phần xây dựng Đảng, cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh.
Các cấp ủy đảng đã quan tâm chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị về giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, chính quyền[1]. Trong nhiệm kỳ, toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc đã triển khai 231.141 cuộc giám sát, trong đó: cấp Trung ương tổ chức 31 đoàn giám sát chuyên đề, cấp tỉnh 7.508 cuộc, cấp huyện 39.794 cuộc, cấp xã 183.808 cuộc. Nội dung giám sát tập trung vào những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống Nhân dân như: quản lý, sử dụng đất đai, ngân sách, bảo vệ môi trường, an sinh xã hội, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, công tác cán bộ…
Công tác phản biện xã hội tiếp tục được các cấp ủy lãnh đạo chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các tổ chức thành viên tham gia ngay từ khâu xây dựng chính sách. Nhiều ý kiến phản biện được các cơ quan chủ trì tiếp thu, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, góp phần nâng cao tính khả thi, sát thực tiễn và phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân. Trong nhiệm kỳ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức 16 hội nghị phản biện xã hội; các tổ chức chính trị-xã hội phản biện đối với 19 dự thảo văn bản; Mặt trận các cấp tổ chức 85.886 cuộc phản biện xã hội (trong đó cấp tỉnh 6.979 cuộc, cấp huyện 16.002 cuộc, cấp xã 62.905 cuộc).
Đặc biệt, công tác giám sát, phản biện ngày càng được đổi mới về nội dung, phương thức, có sự tham gia ngày càng nhiều của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, người có uy tín. Nhiều mô hình giám sát hiệu quả được duy trì và nhân rộng như: “Nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên”, “Mặt trận giám sát đầu tư cộng đồng”, “Giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”. Công tác tiếp nhận, xử lý kiến nghị, nguyện vọng của cử tri, Nhân dân được thực hiện nghiêm túc, có cơ chế phản hồi rõ ràng, từng bước nâng cao uy tín và vị thế của tổ chức.
4. Kết quả vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tập hợp ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã phối hợp tổ chức tốt các hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, triển khai bài bản các hoạt động lấy ý kiến, kiến nghị của Nhân dân. Việc phản ánh được thực hiện thường xuyên, nền nếp, bảo đảm tính khách quan, kịp thời, đúng trọng tâm, trọng điểm. Đáng chú ý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổng hợp và chuyển hàng vạn lượt ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân tới Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền. Trong đó, riêng cấp Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổng hợp và phản ánh chính thức qua các báo cáo tại các kỳ họp Quốc hội. Trung bình mỗi kỳ họp, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp trên 3.000 lượt ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân gửi đến Quốc hội, với nội dung tập trung vào các vấn đề bức xúc liên quan đến các lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, quản lý đất đai, môi trường, giáo dục, y tế, an sinh xã hội và cải cách hành chính...[2].
Thông qua các kênh này, hàng triệu lượt ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân đã được tiếp nhận, phân loại, chuyển tới các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý. Nhiều vấn đề bức xúc đã được tháo gỡ, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tạo sự lan tỏa tích cực trong xã hội.
Đáng chú ý, 63/63 tỉnh, thành phố (trước kia) đã ban hành Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, đồng thời ban hành Quy định trách nhiệm tiếp thu góp ý của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Đây là cơ sở quan trọng để hệ thống Mặt trận phát huy vai trò đại diện, phản ánh kịp thời và đầy đủ hơn ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác tập hợp, phản ánh ý kiến nhân dân cũng được đẩy mạnh, với nhiều mô hình sáng tạo như chuyên trang “lắng nghe nhân dân”, hệ thống tiếp nhận kiến nghị trực tuyến, góp phần nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội và theo dõi kết quả giải quyết kiến nghị.
5. Kết quả tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Công tác tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở. Các cấp ủy đã lãnh đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương, hướng dẫn thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW và Quy định số 124-QĐ/TW của Ban Bí thư[3]; phối hợp tổ chức Giải Báo chí toàn quốc về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Các cấp ủy đã lãnh đạo các cơ quan, tổ chức chủ động tiếp nhận, xử lý đơn thư, tố cáo, phản ánh của Nhân dân, lựa chọn giám sát các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, có dấu hiệu vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thông qua hoạt động của ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng và các diễn đàn Nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhiều vụ việc tiêu cực, lãng phí tại cơ sở đã được phát hiện, kiến nghị xử lý kịp thời. Các tổ chức thành viên chủ động tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phát huy vai trò phát hiện, phản ánh, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
6. Kết quả tham gia cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026
Trong nhiệm kỳ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội đã phát huy vai trò nòng cốt trong hệ thống chính trị, tham gia tích cực, trách nhiệm vào công tác chuẩn bị và tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, góp phần bảo đảm thành công tốt đẹp cho sự kiện chính trị trọng đại của đất nước.
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chủ trì tổ chức 03 hội nghị hiệp thương ở Trung ương để thỏa thuận, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Ở địa phương, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã chủ trì, phối hợp tổ chức hơn 103.000 hội nghị hiệp thương, hội nghị cử tri để giới thiệu, lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm đối với người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tổ chức hơn 96.000 hội nghị tiếp xúc cử tri để người ứng cử thực hiện quyền vận động bầu cử theo đúng quy định của pháp luật.
Kết quả, ở Trung ương các tổ chức trong hệ thống Mặt trận đã giới thiệu 205 người thuộc các cơ quan Trung ương ứng cử đại biểu Quốc hội, trong đó đại biểu thuộc Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức thành viên của Mặt trận có 46 đại biểu trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Ở cấp địa phương, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là cán bộ đoàn thể trúng cử đạt tỷ lệ cao, nhiều đồng chí phát huy tốt vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cùng với công tác tổ chức hiệp thương và giới thiệu người ứng cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tăng cường công tác giám sát quá trình bầu cử, tổ chức nhiều đoàn kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về bầu cử, bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, khách quan, đúng luật. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận và khí thế thi đua sôi nổi trong các tầng lớp Nhân dân, góp phần đạt tỷ lệ cử tri đi bầu cao (trên 99%) và thực sự làm cho ngày bầu cử trở thành ngày hội của toàn dân.
Thông qua cuộc bầu cử, vai trò, vị thế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ tiếp tục được khẳng định và nâng cao, thể hiện rõ là trung tâm tập hợp, đoàn kết, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
7. Kết quả tăng cường đoàn kết quốc tế, mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân và công tác người Việt Nam ở nước ngoài
Trong nhiệm kỳ qua, hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã tích cực, chủ động củng cố và phát triển quan hệ đối ngoại nhân dân với hàng nghìn tổ chức và cá nhân ở các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng, hỗ trợ lẫn nhau trong xóa đói, giảm nghèo, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; chủ động tham gia và phát huy vai trò, trách nhiệm trong các cơ chế, diễn đàn khu vực và quốc tế. Qua đó, vận động, tranh thủ sự ủng hộ của các đối tác trên các lĩnh vực góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, phát triển kinh tế-xã hội (thông qua các chương trình, dự án) đem lợi ích cho Nhân dân ở địa phương, cơ sở.
Hàng năm, phối hợp tổ chức gặp gỡ, vinh danh kiều bào tiêu biểu; phát huy vai trò các hội và các vị Ủy viên Ủy ban là người Việt Nam ở nước ngoài. Thực hiện có hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phát động đã thu hút đông đảo người Việt Nam ở nước ngoài tích cực tham gia, tiêu biểu như cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, quyên góp ủng hộ thiên tai, bão lũ, chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát…
Nhìn chung, trong nhiệm kỳ 2020-2025, công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương có nhiều chuyển biến tích cực, toàn diện, thể hiện rõ vai trò hạt nhân chính trị trong hệ thống chính trị ở Trung ương. Việc chuyển đổi mô hình tổ chức đảng từ Đảng đoàn sang Đảng ủy lãnh đạo toàn diện là bước đổi mới quan trọng, tạo cơ sở để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Các cấp ủy đã tập trung lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tổ chức hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Những kết quả đạt được là minh chứng cho sự lãnh đạo sát sao, toàn diện, quyết liệt của Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; khẳng định vai trò, vị thế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
1. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức
Từ đầu nhiệm kỳ đến khi thành lập Đảng bộ, công tác xây dựng Đảng về chính trị được các tổ chức đảng duy trì nền nếp, gắn chặt với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, tổ chức. Đảng đoàn, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương; kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Việc học tập, quán triệt nghị quyết được đổi mới, linh hoạt; vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, từng bước được phát huy. Công tác tham gia thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng có chuyển biến tích cực, góp phần thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng bộ.
Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng được duy trì nền nếp, gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị. Các cấp ủy chú trọng triển khai đồng bộ các nghị quyết của Đảng, tạo chuyển biến tích cực về nhận thức, tư tưởng và hành động trong cán bộ, đảng viên. Việc đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng được chú trọng thông qua hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới với các đơn vị truyền thông. Hình thức sinh hoạt tư tưởng từng bước được đổi mới, lồng ghép học lý luận với thực tiễn công tác, khơi dậy tinh thần đổi mới, sáng tạo.
Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được các cấp ủy, tổ chức đảng coi trọng gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, khóa XIII[4] gắn với sinh hoạt chi bộ, kiểm điểm và công tác kiểm tra, giám sát. Các cơ quan, đơn vị ban hành quy tắc ứng xử, xây dựng văn hóa công sở, tổ chức sinh hoạt chuyên đề, tuyên dương gương tiêu biểu, đấu tranh với biểu hiện lệch chuẩn, tạo môi trường tu dưỡng đạo đức trong sáng, đoàn kết, kỷ cương.
Từ khi thành lập Đảng bộ đến nay, công tác xây dựng Đảng về chính trị được triển khai toàn diện, thống nhất. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt; đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng gắn với thực tiễn. Bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng của cán bộ, đảng viên được củng cố qua sinh hoạt chuyên đề. Nguyên tắc tập trung dân chủ, kỷ luật, kỷ cương của Đảng được giữ vững. Trách nhiệm nêu gương được cụ thể hóa bằng cam kết, kế hoạch hành động và gắn với đánh giá hằng năm. Các cấp ủy chủ động rà soát, khắc phục hạn chế trong lãnh đạo, điều hành, bước đầu phát huy hiệu quả, góp phần xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.
Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng tiếp tục được xác định là trụ cột trong xây dựng Đảng. Nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục tư tưởng được đổi mới theo hướng khoa học, thực tiễn, kịp thời và hiệu quả. Toàn Đảng bộ tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, kết luận của Trung ương gắn với vận dụng sáng tạo trong thực tiễn. Việc nắm bắt, định hướng tư tưởng và dư luận xã hội được thực hiện kịp thời. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được triển khai toàn diện, đồng bộ với nhiều hình thức, trong đó có tổ chức cuộc thi về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2025. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận được chú trọng, gắn với nhiệm vụ chính trị của các tổ chức. Các cấp ủy chủ động nghiên cứu, tổng kết chủ trương của Đảng, xây dựng báo cáo chuyên đề cung cấp luận cứ cho Đảng, Nhà nước. Đội ngũ báo cáo viên được thành lập, kiện toàn, tổ chức sinh hoạt chuyên đề thường xuyên, kết hợp chặt chẽ giữa học lý luận với thực tiễn, góp phần củng cố lập trường, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên.
Công tác xây dựng Đảng về đạo đức tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư tưởng[5]. Tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt cấp ủy được thực hiện nghiêm túc, có gợi ý kiểm điểm rõ ràng, cụ thể. Việc giám sát rèn luyện đạo đức, lối sống, nhất là đối với người đứng đầu, được tiến hành thường xuyên, gắn với đánh giá hằng năm và phản hồi từ quần chúng. Các biểu hiện sai phạm về đạo đức, lợi dụng vị trí để trục lợi đều được kiểm điểm, xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm.
Công tác biểu dương điển hình tiên tiến được gắn với các phong trào thi đua, tuyên truyền trên báo chí, lan tỏa gương sáng đạo đức, lối sống. Các cấp ủy chú trọng xây dựng môi trường văn hóa trong tổ chức, kết hợp kỷ luật Đảng với giáo dục đạo đức cách mạng, xác lập tiêu chí rèn luyện, nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.
2. Công tác xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ
Từ đầu nhiệm kỳ đến khi thành lập Đảng bộ, công tác xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ tiếp tục được các cấp ủy trực thuộc quan tâm triển khai, gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Các tổ chức đảng trong Cơ quan Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã tích cực rà soát chức năng, nhiệm vụ, tinh giản biên chế, sắp xếp, hợp nhất các đầu mối tổ chức có chức năng tương đồng, từng bước khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Sau khi Đảng bộ được thành lập, công tác xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ được tập trung chỉ đạo quyết liệt, toàn diện và đồng bộ. Đảng ủy đã khẩn trương ổn định tổ chức, ban hành quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ, thành lập 3 đảng bộ cấp trên cơ sở, 14 đảng bộ cơ sở và 8 chi bộ cơ sở (hiện nay là 4 đảng bộ cấp trên cơ sở, 13 đảng bộ cơ sở, 8 chi bộ cơ sở). Đây là lần đầu tiên toàn bộ các tổ chức đảng trong Cơ quan Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của một đảng bộ trực thuộc Trung ương, tạo bước đột phá về tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng.
Công tác xây dựng và củng cố tổ chức đảng được quan tâm thường xuyên, toàn diện hơn. Các cấp ủy trực thuộc đã rà soát, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, sửa đổi, hoàn thiện quy chế làm việc cho phù hợp với tình hình mới; củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng sinh hoạt chi bộ. Việc đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt đảng được đẩy mạnh, góp phần nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chức đảng tại từng cơ quan, đơn vị. Các cấp ủy quan tâm xây dựng lực lượng kế cận, chú trọng công tác phát hiện, bồi dưỡng, kết nạp đảng viên mới; số lượng đảng viên mới kết nạp trong nhiệm kỳ ở các tổ chức đảng đạt chỉ tiêu mà đại hội đảng của các tổ chức đảng trực thuộc đề ra, chất lượng đảng viên từng bước được nâng cao. Trong nhiệm kỳ đã bồi dưỡng lý luận chính trị cho 872 đảng viên mới; bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng cho 1.219 quần chúng ưu tú và kết nạp 824 đảng viên mới.
Công tác cán bộ được thực hiện đúng nguyên tắc, quy trình, bảo đảm dân chủ, khách quan, công tâm. Bộ Chính trị đã chỉ định Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Bí thư Đảng ủy ngay từ khi thành lập, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ máy cấp ủy nhanh chóng đi vào hoạt động ổn định, hiệu quả. Trên cơ sở đó, Đảng ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức đảng chuẩn bị và tổ chức đại hội chi bộ, đảng bộ trực thuộc nhiệm kỳ 2025-2030, đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng, lựa chọn được đội ngũ cán bộ cấp ủy có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín. Việc rà soát, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ được thực hiện bài bản, chú trọng cán bộ trẻ, cán bộ nữ và cán bộ có năng lực đổi mới, sáng tạo. Đảng ủy tăng cường lãnh đạo công tác cán bộ tại các tổ chức đảng trực thuộc, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, gắn trách nhiệm của bí thư cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, tổ chức với kết quả công tác cán bộ ở cơ quan, tổ chức được giao phụ trách.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được triển khai đồng bộ, toàn diện, tập trung vào nâng cao trình độ lý luận chính trị, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, nghiệp vụ công tác và tổ chức thực tiễn. Đảng ủy đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, nhất là trong bối cảnh thực hiện chuyển đổi số và cải cách hành chính trong hệ thống chính trị.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện nghiêm túc, thận trọng, đúng quy định. Đảng ủy chỉ đạo kiểm tra, thẩm định kỹ lưỡng tiêu chuẩn chính trị đối với các trường hợp bổ nhiệm, quy hoạch, kết nạp đảng viên. Công tác nắm tình hình chính trị nội bộ, kiểm soát việc đi nước ngoài của cán bộ, đảng viên được quản lý chặt chẽ. Việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề, nhất là các chuyên đề về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, được đẩy mạnh, góp phần nâng cao ý thức chính trị, tinh thần cảnh giác và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.
Với những kết quả trên các mặt công tác tổ chức xây dựng Đảng, Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện, xây dựng nền tảng tổ chức vững chắc, đội ngũ cán bộ, đảng viên chất lượng cao, tạo tiền đề quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn phát triển mới.
3. Công tác xây dựng Đảng về kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng
Từ đầu nhiệm kỳ đến khi thành lập Đảng bộ, công tác xây dựng Đảng về kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng được các tổ chức cơ sở đảng thực hiện nghiêm túc theo Điều lệ Đảng và hướng dẫn của cấp trên. Chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa và hằng năm được triển khai nền nếp, tập trung vào các nội dung trọng tâm như tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác cán bộ. Việc giám sát tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là đối với người đứng đầu được chú trọng.
Từ khi thành lập Đảng bộ, công tác xây dựng Đảng về kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng tiếp tục được các cấp ủy, tổ chức đảng duy trì thành nền nếp, tổ chức thực hiện và triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã thực hiện quy trình đề nghị Ban Bí thư chỉ định Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy. Ban Thường vụ Đảng ủy đã quyết định thành lập và chỉ định nhân sự ủy ban kiểm tra tại 17 tổ chức đảng trực thuộc, ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025; ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc Chương trình kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng năm 2025, trong đó chú trọng những vấn đề nổi cộm, dễ phát sinh sai phạm. Các tổ chức đảng trực thuộc tích cực triển khai giám sát chuyên đề, giám sát thường xuyên gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả công tác.
Công tác thi hành kỷ luật đảng được thực hiện kịp thời, đúng quy trình, bảo đảm nguyên tắc, khách quan, công tâm, góp phần răn đe, phòng ngừa vi phạm. Việc kiện toàn tổ chức bộ máy ủy ban kiểm tra các cấp, bổ sung quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ kiểm tra được các cấp ủy triển khai thực hiện. Đặc biệt, Đảng ủy đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng để nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước[6]; tập trung giải quyết đơn, thư tại các cấp ủy trực thuộc, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước xây dựng nền tảng giám sát số trong công tác kiểm tra, thi hành kỷ luật của Đảng.
4. Công tác xây dựng Đảng về dân vận và lãnh đạo các tổ chức chính trị-xã hội, hội quần chúng
Từ đầu nhiệm kỳ đến khi thành lập Đảng bộ, công tác xây dựng Đảng về dân vận và lãnh đạo các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trong các cơ quan, đơn vị đã được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đạt một số kết quả tích cực.
Các cấp ủy, tổ chức đảng đã chú trọng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; từng bước củng cố, kiện toàn ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở các cấp; triển khai các nhiệm vụ trọng tâm theo tinh thần Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/3/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Kết luận số 120-KL/TW ngày 7/1/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Việc phát huy dân chủ được gắn với giữ vững kỷ luật, kỷ cương; chú trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, kịp thời xử lý các biểu hiện lợi dụng dân chủ gây mất đoàn kết nội bộ.
Công tác dân vận trong các cơ quan, tổ chức đã có những chuyển biến tích cực. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức từng bước nhận thức rõ hơn về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác dân vận; phương pháp công tác, tác phong làm việc có tiến bộ; sự phối hợp trong triển khai công tác dân vận được cải thiện, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, tổ chức.
Các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tích cực phối hợp giải quyết kịp thời các vấn đề liên quan đến đời sống cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và người lao động; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết đoàn viên, hội viên, tham gia xây dựng tổ chức đảng và cơ quan, tổ chức trong sạch, vững mạnh.
Công tác thanh niên được quan tâm thông qua các hoạt động giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống; cổ vũ đoàn viên, thanh niên tích cực học tập, rèn luyện, lao động sáng tạo, góp phần xây dựng thế hệ trẻ có bản lĩnh, năng lực và trách nhiệm. Đồng thời, là lực lượng tiên phong, nòng cốt trong quá trình thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, có nhiều hiến kế cho tổ chức Đoàn để phát huy vai trò của thanh niên trong phát triển đất nước.
Từ khi thành lập Đảng bộ đến nay, công tác dân vận và lãnh đạo các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ được triển khai đồng bộ, có chiều sâu, gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức và yêu cầu xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.
Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức công tác dân vận, bám sát thực tiễn hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Công tác dân vận trong các cơ quan, tổ chức được đẩy mạnh, gắn với cải cách hành chính, thực hành dân chủ, nâng cao trách nhiệm phục vụ Nhân dân.
Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tiếp tục được chú trọng; các cơ quan, tổ chức đẩy mạnh đối thoại, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; triển khai nhân rộng các mô hình “Dân vận khéo”, góp phần lan tỏa tinh thần thi đua yêu nước, tạo sự đồng thuận trong cơ quan, tổ chức.
Các cấp ủy đã quan tâm lãnh đạo các tổ chức chính trị-xã hội đổi mới phương thức hoạt động, tăng cường nắm bắt tâm tư, nguyện vọng đoàn viên, hội viên; chủ động tham mưu, đề xuất, phản ánh kiến nghị của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động với cấp ủy các cấp; đẩy mạnh các phong trào thi đua, các cuộc vận động gắn với nhiệm vụ chuyên môn của từng cơ quan, tổ chức.
Công tác thanh niên có nhiều chuyển biến tích cực; tổ chức đoàn các cấp được củng cố, kiện toàn; các phong trào thanh niên được triển khai hiệu quả, góp phần rèn luyện thế hệ trẻ giàu lý tưởng, năng động, sáng tạo, có trách nhiệm với cộng đồng và đất nước.
Nhờ sự lãnh đạo toàn diện của các cấp ủy đảng, công tác dân vận và hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội đã ngày càng đi vào nền nếp, thực chất; khẳng định vai trò nòng cốt trong việc phát huy sức mạnh đoàn kết của tổ chức, xây dựng tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức trong sạch, vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.
5. Công tác tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, gắn với việc triển khai Kết luận số 121-KL/TW, ngày 24/1/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, toàn diện và triển khai thực hiện đạt được những kết quả quan trọng.
Sau khi thành lập Đảng bộ, Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã tiến hành các thủ tục thành lập các tổ chức đảng trực thuộc, ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và tiếp tục chỉ đạo quyết liệt việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các tổ chức đảng trực thuộc, đầu mối bên trong của các cơ quan, tổ chức. Kết quả đã sắp xếp, hợp nhất 284 đầu mối tổ chức còn 159 đầu mối, giảm 125 đầu mối (tương đương 55,98%); tổng biên chế giảm từ 2.720 người còn 2.185 người, tinh giản 535 biên chế (tương đương 19,67%), trong đó có 124 biên chế thuộc các cơ quan báo chí, hội quần chúng.
Việc triển khai thực hiện các kết luận, kế hoạch của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW được Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập trung lãnh đạo, triển khai ban hành kế hoạch, thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ Biên tập xây dựng và hoàn thành các đề án trình và được đã được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư phê duyệt, thông qua gồm: Đề án sắp xếp, tinh gọn Cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; Đề án quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (theo mô hình mới). Đồng thời, Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã phê duyệt Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Triển khai thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TW của Bộ Chính trị, tính từ tháng 10 năm 2024 đến nay, sau 2 lần sắp xếp, tinh gọn, hợp nhất, cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội giảm từ 111 đầu mối xuống còn 51 đầu mối (giảm 54%). Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan tham mưu giúp việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, cấp xã; 22 Quyết định thành lập Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của 22 tỉnh, thành phố; sau sắp xếp, hợp nhất; đã công nhận Ủy viên Ủy ban là 3.077 người/34 tỉnh, thành phố; Ban Thường trực là 327 người/34 tỉnh, thành phố. Đối với chức danh Chủ tịch có 33/34 Chủ tịch (khuyết 01); 22/34 Phó Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố; 34/34 tỉnh, thành phố đã thực hiện sắp xếp xong cơ quan tham mưu, giúp việc của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.
Việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và các kết luận liên quan đã được Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương tổ chức bài bản, quyết liệt, khoa học; đạt kết quả rõ rệt cả về nhận thức, tổ chức, nhân sự và hiệu quả hoạt động; khẳng định tinh thần đổi mới, trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao của Đảng bộ trong thực hiện các chủ trương lớn của Trung ương về đổi mới hệ thống chính trị trong tình hình mới.
Bên cạnh đó, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã tích cực tham gia sửa đổi một số điều của Hiến pháp năm 2013; đề xuất xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; đề xuất sửa đổi các quy định, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sắp xếp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau khi được sắp xếp, tổ chức lại theo Đề án đã được Ban Chấp hành Trung ương phê duyệt.
6. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng tiếp tục được chú trọng, triển khai toàn diện trên các lĩnh vực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong các tổ chức đảng ở Cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương.
Trước khi Đảng bộ được thành lập, phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng chủ yếu thông qua sự phối hợp giữa các đảng đoàn, cấp ủy và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, song còn thiếu chặt chẽ, chưa có sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo. Tuy nhiên, nhiều cấp ủy đã tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo trong quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng trong công tác kiểm tra, giám sát, đổi mới nội dung sinh hoạt chi bộ, linh hoạt áp dụng công nghệ thông tin trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, gắn công tác xây dựng Đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Từ khi thành lập Đảng bộ đến nay, việc đổi mới phương thức lãnh đạo được thực hiện toàn diện trong các lĩnh vực: ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết; công tác cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; phát huy vai trò người đứng đầu và nêu gương; công tác dân vận và lãnh đạo các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; đổi mới phong cách, phương pháp làm việc.
Các cấp ủy đảng trong toàn Đảng bộ đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận trọng tâm, cụ thể, có lộ trình và phân công trách nhiệm rõ ràng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện gắn với đánh giá tổ chức đảng và đảng viên. Việc tham gia thể chế hóa chủ trương của Đảng được đẩy mạnh, từng bước nâng cao năng lực cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp ủy đảng.
Công tác cán bộ được thống nhất lãnh đạo, thực hiện đúng quy trình, dân chủ, công khai, minh bạch. Đảng ủy đã chỉ đạo kiện toàn các cấp ủy theo hướng tinh gọn, hiệu quả; phát huy vai trò nòng cốt của bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, tổ chức. Việc phát hiện, quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận được chú trọng, gắn với đổi mới nội dung, phương pháp bồi dưỡng, nâng cao chất lượng cán bộ trong điều kiện chuyển đổi số và yêu cầu nhiệm vụ mới.
Phương thức kiểm tra, giám sát được đổi mới cả về nội dung và cách thức, tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm; các tổ chức đảng đã phát huy vai trò tự kiểm tra, tự giám sát; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, theo dõi, tổng hợp dữ liệu phục vụ kiểm tra, đánh giá kịp thời.
Vai trò nêu gương của người đứng đầu được thể hiện rõ nét trong việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Các cấp ủy đã đưa nội dung nêu gương vào kế hoạch hành động, đánh giá thi đua hằng năm; phát động các phong trào “tự soi, tự sửa”, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với vị trí việc làm và môi trường công tác cụ thể.
Phương thức lãnh đạo công tác dân vận và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ tiếp tục được đổi mới. Các cấp ủy đã cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ, hoàn thiện các loại quy chế, đẩy mạnh hoạt động giám sát, phản biện xã hội, phát huy dân chủ ở cơ sở.
Phong cách, phương pháp công tác, lề lối làm việc tiếp tục được đổi mới theo hướng dân chủ, khoa học, chuyên nghiệp. Cấp ủy các cấp đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, chuyển đổi số trong lãnh đạo, điều hành, ứng dụng các nền tảng trực tuyến trong giao ban, hội nghị, xử lý công việc.
Những kết quả đổi mới phương thức lãnh đạo trong nhiệm kỳ qua đã góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với hệ thống Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành tốt sứ mệnh chính trị trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Nhìn chung, nhiệm kỳ 2020-2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương. Việc thành lập Đảng bộ thống nhất theo Quyết định số 245-QĐ/TW của Bộ Chính trị là bước đột phá về tư duy tổ chức, khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong lãnh đạo toàn diện, thống nhất hệ thống chính trị ở Trung ương. Trên nền tảng mô hình mới, công tác xây dựng Đảng được triển khai đồng bộ, bài bản, thích ứng nhanh với yêu cầu thực tiễn. Phương thức lãnh đạo được đổi mới theo hướng rõ mục tiêu, mạnh tổ chức, sát nhiệm vụ; kỷ luật, kỷ cương được siết chặt; vai trò nêu gương, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên được phát huy. Kết quả đạt được nêu trên không chỉ củng cố tổ chức đảng vững mạnh, mà còn tạo tiền đề để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ trong giai đoạn phát triển mới.
1. Ưu điểm
Nhiệm kỳ 2020-2025, toàn Đảng bộ đã phát huy tinh thần đoàn kết, chủ động, đổi mới, tập trung lãnh đạo toàn diện việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, việc đổi mới mô hình tổ chức đảng từ Đảng đoàn sang Đảng ủy lãnh đạo toàn diện thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng đã phát huy vai trò hạt nhân chính trị, đạt được nhiều kết quả quan trọng:
Công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị được các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo sát sao, quyết liệt, đạt nhiều kết quả quan trọng. Các cấp ủy đảng luôn bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương; chủ động cụ thể hóa thành các chương trình hành động, kế hoạch công tác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức. Việc triển khai được thực hiện đồng bộ, nhất quán từ Trung ương đến cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Các cấp ủy đảng đã phát huy vai trò hạt nhân chính trị, kịp thời lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ chủ động triển khai các hoạt động chuyên môn, phong trào thi đua, cuộc vận động lớn. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo hiệu ứng lan tỏa sâu rộng trong xã hội. Nội dung, phương thức thực hiện nhiệm vụ chính trị được đổi mới mạnh mẽ, gắn chặt với thực tiễn cơ sở và nhu cầu của Nhân dân. Các chương trình hành động có trọng tâm, trọng điểm, phát huy được thế mạnh từng tổ chức, hướng tới giải quyết các vấn đề thiết thực của cuộc sống, nâng cao uy tín và vai trò của hệ thống chính trị trong lòng Nhân dân.
Công tác xây dựng Đảng được xác định là nhiệm vụ then chốt, được các cấp ủy đảng triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức được tăng cường; việc học tập, quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương được thực hiện nghiêm túc, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức tu dưỡng, rèn luyện và “sức đề kháng” tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Công tác tổ chức xây dựng Đảng được triển khai bài bản, bảo đảm nguyên tắc, quy trình; mô hình đảng ủy lãnh đạo toàn diện thay thế mô hình đảng đoàn tạo chuyển biến căn bản trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Hệ thống tổ chức đảng được kiện toàn, đồng bộ, phát huy rõ vai trò trung tâm chính trị tại mỗi cơ quan, tổ chức, khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo trong lãnh đạo, chỉ đạo. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được chú trọng, thực hiện đúng quy định, tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm. Phương thức lãnh đạo của cấp ủy các cấp tiếp tục được đổi mới theo hướng dân chủ, công khai, hiệu quả; ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành, sinh hoạt Đảng, kiểm tra, giám sát ngày càng được đẩy mạnh, từng bước hình thành phương thức lãnh đạo phù hợp trong bối cảnh chuyển đổi số.
2. Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả và chuyển biến tích cực, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ trong nhiệm kỳ 2020-2025 vẫn còn một số hạn chế, yếu kém cần nghiêm túc khắc phục:
Nội dung, phương thức tập hợp các tầng lớp Nhân dân có lúc, có việc chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Một số phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động ở một số nơi hiệu quả chưa cao; công tác giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền có nơi còn lúng túng; hoạt động đối ngoại nhân dân chưa tương xứng với tiềm năng, vị thế của Mặt trận.
Việc chuyển đổi mô hình tổ chức đảng còn mới, nên ở một số cấp ủy còn lúng túng trong vận hành; chưa nắm vững đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, dẫn đến chưa phát huy hết vai trò lãnh đạo toàn diện. Một số tổ chức đảng còn thiếu chủ động trong việc cụ thể hóa nghị quyết, triển khai chương trình công tác chưa kịp thời, chưa theo kịp định hướng chuyển đổi số.
Sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy ở một số nơi còn hình thức, nội dung chưa sát với nhiệm vụ chính trị và đặc thù cơ quan, tổ chức. Công tác phát triển đảng viên còn khó khăn. Việc tự phê bình và phê bình trong đánh giá tổ chức đảng, đảng viên còn nể nang, tính chiến đấu chưa cao.
Một số tổ chức đảng triển khai công tác kiểm tra, giám sát chưa toàn diện, thiếu trọng tâm, trọng điểm; công tác phòng ngừa, phát hiện vi phạm chưa kịp thời, một số tổ chức đảng vẫn còn tình trạng đơn, thư khiếu kiện kéo dài. Công tác dân vận và lãnh đạo các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở một số cơ quan, tổ chức vẫn còn hình thức. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành, sinh hoạt đảng còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hiện đại hóa trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.
* Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém
Những hạn chế, yếu kém trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu như:
(1) Về nguyên nhân khách quan: Việc chuyển đổi mô hình tổ chức và phương thức lãnh đạo là vấn đề lớn, quan trọng, với sự điều chỉnh khá toàn diện từ cơ cấu tổ chức, nhân sự, tư duy, phương pháp và quy chế hoạt động, đòi hỏi cần có lộ trình, thời gian nhất định. Tuy nhiên, từ ngày thành lập Đảng bộ (24/01/2025) đến nay, thời gian quá ngắn để đồng bộ tổ chức, ổn định hoạt động theo mô hình tổ chức bộ máy mới. Nhất là, sự chuyển đổi này diễn ra trong khi cả nước đang tập trung triển khai tinh gọn tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, chuyển đổi số…, theo đó điều kiện về nguồn lực và thời gian chuẩn bị đều có hạn.
Sự khác biệt về trình độ, năng lực, nhận thức và kinh nghiệm giữa các tổ chức đảng, các cấp ủy, giữa cán bộ cũ và mới trong hệ thống là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả triển khai các nhiệm vụ. Việc thiếu đồng đều trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt về kỹ năng tổ chức sinh hoạt đảng, kỹ năng lãnh đạo trong môi trường số cũng là một nguyên nhân đáng kể.
Các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của Đảng ủy (trụ sở, tài chính, nhân lực...) chưa ổn định.
(2) Về nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, cán bộ, đảng viên còn tâm lý thụ động, trông chờ cấp trên, chưa mạnh dạn đổi mới tư duy lãnh đạo. Tinh thần chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chưa được phát huy đầy đủ, đặc biệt trong các khâu trọng yếu như cụ thể hóa nghị quyết, giám sát thực thi chính sách, phản biện xã hội. Công tác phối hợp giữa tổ chức đảng và lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa thường xuyên, thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm rõ ràng.
3. Bài học kinh nghiệm
Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của Đảng bộ trong nhiệm kỳ qua, có thể rút ra một số bài học sau:
Thứ nhất, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, coi trọng và phát huy vai trò chủ thể, quyền làm chủ của Nhân dân; kịp thời thể chế hóa, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Thường xuyên củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Thứ hai, phải thường xuyên củng cố, nâng cao vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức đảng, khẳng định và thực hiện đầy đủ vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.
Thứ ba, tăng cường phân cấp, phân quyền hợp lý, rõ người, rõ việc, gắn với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực, bảo đảm hiệu lực; kiên quyết, kiên trì triển khai thực hiện các chủ trương mới, nâng cao hiệu quả trong vận hành mô hình đảng ủy lãnh đạo toàn diện; nêu cao tính sáng tạo, chủ động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Thứ tư, coi trọng việc đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của cấp ủy các cấp gắn với yêu cầu thực tiễn và công nghệ số, coi trọng đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Thứ năm, quán triệt sâu sắc các văn kiện Đại hội của Đảng, nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để thể chế hóa và thực hiện trong quá trình hoạt động của toàn Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương. Đồng thời, coi trọng và tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương với các ban đảng, các đảng ủy trực thuộc Trung ương và các cơ quan hữu quan trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Nhiệm kỳ 2025-2030 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; thực hiện mục tiêu đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; tiến tới xây dựng xã hội thịnh vượng, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc, tạo nền tảng vững chắc để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Dự báo thời gian tới, bối cảnh tình hình quốc tế sẽ tiếp tục diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường và ẩn chứa nhiều rủi ro; hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là khát vọng của các dân tộc nhưng cạnh tranh chiến lược, chiến tranh thương mại, xung đột diễn ra dưới những hình thức mới và gay gắt hơn. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt còn diễn biến phức tạp hơn. Những vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống diễn biến khó lường. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang là hai xu thế lớn, chi phối sâu sắc tiến trình phát triển của nhân loại. Phát triển bền vững trở thành xu thế bao trùm; kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh đang là mô hình phát triển được nhiều quốc gia lựa chọn.
Xu hướng thay đổi của tình hình thế giới, khu vực đem lại cả thuận lợi và thời cơ, khó khăn và thách thức đan xen, đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong ngắn hạn, môi trường quốc tế vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định cho quá trình phát triển, đòi hỏi nước ta phải khẩn trương nâng cao công tác dự báo và tăng cường năng lực nội tại để kịp thời xử lý được những tình huống phức tạp nảy sinh. Trong dài hạn, nhìn chung các xu hướng phát triển có ảnh hưởng tích cực cho sự phát triển của Việt Nam, đó là xu hướng đổi mới và cơ cấu lại nền kinh tế dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới, sáng tạo, đảm bảo phát triển nhanh, bền vững, hài hòa với văn hóa, xã hội, môi trường và quốc phòng-an ninh, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Nhiệm kỳ tới, hệ thống chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nhân dân tin tưởng và kỳ vọng rất lớn vào việc sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở và hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp. Việc sắp xếp mô hình tổ chức mới vừa là cơ hội để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và các hội quần chúng, đồng thời đặt ra nhiều thách thức mới. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; tiến tới xây dựng một xã hội thịnh vượng, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc gắn với dấu mốc đặc biệt quan trọng 100 năm thành lập Đảng và hướng tới 100 năm thành lập nước, cần có sự chỉ đạo, lãnh đạo quyết liệt, kịp thời của Đảng và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cùng với sự chung sức, đồng lòng của người dân, cộng đồng doanh nghiệp. Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương xác định quan điểm, phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2025-2030, cụ thể như sau:
(1) Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đối với cấp ủy trực thuộc trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
(2) Lấy Nhân dân làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của đổi mới. Mọi nghị quyết, chương trình hành động phải trả lời: Ích lợi thiết thực gì cho dân, cho từng nhóm yếu thế, cho từng cộng đồng cụ thể.
(3) Kết hợp dân chủ-kỷ cương-pháp quyền. Mở rộng dân chủ ở cơ sở, thúc đẩy đối thoại xã hội, song hành với kỷ cương thực thi, thượng tôn pháp luật, tôn trọng khác biệt.
(4) Chuyển từ phong trào hình thức sang kết quả thực chất, dựa trên dữ liệu, số liệu; ưu tiên các mô hình có khả năng nhân rộng nhanh, chi phí hợp lý, tác động lớn đến đời sống, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân.
Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và chất lượng hoạt động của Đảng bộ; xây dựng Đảng bộ thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Phát huy vai trò hạt nhân chính trị của các tổ chức đảng trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương.
Đẩy mạnh đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo theo hướng toàn diện, dân chủ, khoa học, hiện đại; lãnh đạo các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị, đóng góp cho các mục tiêu phát triển; tăng cường tính thiết thực, hiệu quả trong công tác tham mưu, tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp cơ sở gần dân, sát dân, có bản lĩnh chính trị, đạo đức trong sáng, tinh thần đổi mới, năng lực thực tiễn, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; hoàn thiện và tổ chức thực hiện hiệu quả mô hình tổ chức mới của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đảm bảo hiệu quả, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở; sửa đổi, bổ sung Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng gắn với hoàn thiện, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội, vận động Nhân dân phát huy vai trò liên minh chính trị-liên hiệp tự nguyện, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; đề cao trách nhiệm nêu gương, kỷ luật, kỷ cương trong toàn Đảng bộ; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chủ động nắm bắt dư luận xã hội, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân và đồng thuận xã hội.
1. Mục tiêu chung
Phát huy tinh thần Đoàn kết-Dân chủ-Đổi mới-Sáng tạo-Phát triển, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tập trung lãnh đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.
Phát huy vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức đảng, vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới, làm sâu sắc mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân; góp phần xây dựng Đảng, chính quyền các cấp liêm chính, phục vụ Nhân dân.
Phát huy trí tuệ, trách nhiệm, sức sáng tạo và nguồn lực của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân; thực hiện hiệu quả giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu
(1) Hằng năm, mỗi khu dân cư có ít nhất 1 công trình hoặc phần việc tiêu biểu, cụ thể, góp phần xây dựng, phục vụ cộng đồng (xanh, sạch, đẹp, an ninh, trật tự, an toàn,…) gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân.
(2) Hằng năm, tổ chức vận động, quyên góp nguồn lực ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” và an sinh xã hội. Trong nhiệm kỳ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phấn đấu huy động 45.000 tỷ đồng từ các nguồn lực xã hội, trong đó huy động thông qua Quỹ “Vì người nghèo” các cấp là 10.000 tỷ đồng và thông qua các chương trình an sinh xã hội trên 35.000 tỷ đồng.
(3) Hằng năm, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện ít nhất 10 chương trình, nội dung giám sát phạm vi toàn quốc, phản biện xã hội ít nhất 10 dự thảo luật, văn bản quy phạm pháp luật. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh tổ chức ít nhất 5 chương trình, nội dung giám sát, phản biện xã hội ít nhất 5 dự thảo văn bản; cấp xã tổ chức ít nhất 3 chương trình, nội dung giám sát, phản biện xã hội ít nhất 3 dự thảo văn bản; tổ chức giám sát các nội dung theo chỉ đạo của cấp trên và những vấn đề được đông đảo quần chúng Nhân dân quan tâm.
(4) Hằng năm, phấn đấu 100% cán bộ Mặt trận cấp xã và Trưởng ban Công tác Mặt trận thôn, ấp, khu phố được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng công tác Mặt trận. Đến cuối nhiệm kỳ, phấn đấu có 100% cán bộ Mặt trận được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ công tác; 100% Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động.
(5) 100% đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và người lao động tham gia học tập, nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Trung ương và Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.
(6) 100% cấp ủy trực thuộc xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương và Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.
(7) 100% bí thư chi bộ, cấp ủy viên cơ sở được bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ công tác đảng ít nhất hai lần trong nhiệm kỳ.
(8) 100% đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và người lao động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
(9) Hằng năm, có trên 80% chi bộ, đảng bộ cơ sở, đảng bộ cấp trên cơ sở đạt trong sạch, vững mạnh; 90% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.
(10) 100% cấp ủy trực thuộc triển khai hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số trong công tác đảng và phấn đấu 100% tổ chức đảng trực thuộc trở lên xây dựng phòng họp không giấy.
1. Nhiệm vụ trọng tâm
1.1. Đổi mới toàn diện nội dung, phương thức lãnh đạo hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể theo hướng thực chất, hiệu quả, hướng mạnh về cơ sở, gần dân, sát dân, hiểu dân, phục vụ dân; tiếp tục khẳng định và phát huy vai trò nòng cốt, trung tâm đoàn kết, tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội, khơi dậy, tập hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực, sức sáng tạo và tinh thần yêu nước của Nhân dân, lan tỏa sức mạnh của Nhân dân, những giá trị tốt đẹp trong xã hội để phát triển đất nước. Phát huy truyền thống sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng lòng, chung sức thực hiện hiệu quả các cuộc vận động lớn, các phong trào thi đua yêu nước[7]. Triển khai thực hiện Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 và định kỳ hàng năm tổ chức Diễn đàn Nhân dân.
1.2. Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy Cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế bảo đảm vận hành hoạt động theo mô hình mới đồng bộ, thông suốt, hiệu quả từ Trung ương tới cơ sở yêu cầu “mô hình mới phải tốt hơn mô hình cũ”. Xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng bản lĩnh, trí tuệ, có phẩm chất đạo đức, kỹ năng vận động quần chúng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
1.3. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý, điều hành, kết nối, tương tác rộng rãi, hiệu quả với đoàn viên, hội viên và Nhân dân; kết nối giữa Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể với cộng đồng, thúc đẩy dân chủ ở cơ sở. Đổi mới phương thức truyền thông, nâng cao hiệu quả định hướng dư luận xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững trận địa tư tưởng trong xã hội, chủ động phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch.
1.4. Chủ động tham gia giải quyết các vấn đề lớn của xã hội; khơi dậy mạnh mẽ phong trào đổi mới, sáng tạo trong Nhân dân, thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế tư nhân... Tập trung quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân và các nghị quyết quan trọng khác của Bộ Chính trị sẽ ban hành trong thời gian tới.
1.5. Nâng cao chất lượng tham gia xây dựng và hoàn thiện thể chế, chủ động đề xuất, kiến nghị các chủ trương, chính sách, pháp luật sát thực tiễn, gắn kết “Ý Đảng” với “Lòng Dân”. Đổi mới tư duy, bám sát thực tiễn, nâng cao thực chất công tác giám sát, phản biện xã hội có trọng tâm, trọng điểm. Chủ động, tích cực tham gia hiệu quả hơn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
1.6. Tích cực mở rộng hợp tác quốc tế, đối ngoại nhân dân, chủ động kết nối, hợp tác với các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nhằm huy động nguồn lực, phát huy vai trò, vị thế của đất nước trên trường quốc tế, lan tỏa hình ảnh, giá trị tốt đẹp của đất nước, con người Việt Nam ra thế giới, góp phần thúc đẩy hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.
1.7. Chủ động tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các tổ chức, đoàn thể vững mạnh; nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội, bảo đảm vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp Nhân dân; thúc đẩy cải cách hành chính, xây dựng chính quyền liêm chính, kiến tạo phát triển, phục vụ Nhân dân.
1.8. Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp. Chú trọng nâng cao chất lượng chi bộ, đảng viên; đổi mới sinh hoạt chi bộ; phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của cấp ủy trong các cơ quan, tổ chức. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng gắn với công khai, minh bạch và kiểm soát quyền lực trong toàn Đảng bộ. Tăng cường vai trò của ủy ban kiểm tra các cấp; nâng cao chất lượng giám sát chuyên đề; thực hiện tốt tự soi, tự sửa và giám sát tài sản, thu nhập cán bộ.
2. Giải pháp chủ yếu
2.1. Công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
2.1.1. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng
Thiết kế các chương trình hành động phù hợp với nhu cầu thực tiễn, tránh hình thức, hành chính hóa. Tăng cường phối hợp liên kết giữa các đoàn thể trong triển khai cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước tại cộng đồng. Giao quyền chủ động cho cơ sở lựa chọn nội dung, cách làm sáng tạo, hiệu quả, sát với địa bàn dân cư. Bảo đảm nguồn lực hoạt động, đặc biệt cho cấp xã, thôn.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai “Cổng Mặt trận số” tiếp nhận kiến nghị 24/7, chọn thí điểm mỗi tỉnh, thành phố 01 mô hình điểm về đối thoại xã hội và 01 mô hình điểm về an sinh cộng đồng; tổ chức “Tháng nghe dân nói” đồng loạt ở các cấp, các tổ chức, đoàn thể trực thuộc. Công đoàn phối hợp tổ chức tốt đối thoại định kỳ, thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể thực chất, bảo vệ quyền lợi người lao động, xây dựng thiết chế công đoàn ở nơi ở, nơi làm việc. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam xây dựng đề án mở rộng cơ sở tại khu công nghiệp, khu nhà trọ, địa bàn nông thôn mới; đào tạo lao động trẻ ngoài khu vực nhà nước, thanh niên số. Hội Nông dân gắn với gắn hợp tác xã, cụm liên kết, chế biến, thị trường; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đi đầu chương trình an sinh, hạnh phúc gia đình, chăm sóc sức khỏe tinh thần; Hội Cựu chiến binh, Hội Cựu Công an nhân dân, Hội Cựu Thanh niên xung phong là điểm tựa về kỷ luật, trật tự, phòng chống tệ nạn ở cộng đồng...
Xây dựng mô hình dân vận sáng tạo gắn với các nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ. Nhân rộng các mô hình “tự quản”, “dân vận khéo”, “khu dân cư tiêu biểu” để lan tỏa và tạo động lực phát triển. Phát triển nền tảng dân vận số, khảo sát trực tuyến, phản hồi hai chiều giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Tổ chức truyền thông chính sách, phổ biến kiến thức, tuyên truyền hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên trên mạng xã hội và kênh truyền thông thuộc hệ thống các tổ chức thành viên. Tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá thường xuyên hoạt động phong trào thi đua yêu nước, bảo đảm tránh hình thức, nặng về khẩu hiệu.
Tổ chức thực hiện Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhằm tăng cường tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy dân chủ, khơi dậy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận xã hội, cổ vũ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển đất nước. Đổi mới nội dung, phương thức vận động quần chúng: Hướng mạnh về cơ sở, gần dân, sát dân, phục vụ lợi ích thiết thực của Nhân dân; nhân rộng các mô hình hay, điển hình tốt trong phong trào thi đua, các cuộc vận động. Gắn kết sức mạnh đại đoàn kết trong và ngoài nước: Đẩy mạnh công tác kiều bào, đối ngoại nhân dân, kết nối nguồn lực trong nước và quốc tế; lan tỏa hình ảnh, giá trị tốt đẹp của dân tộc, nâng cao uy tín, vị thế đất nước. Tăng cường kiểm tra, giám sát: Định kỳ đánh giá kết quả thực hiện, kịp thời tháo gỡ khó khăn, bổ sung giải pháp phù hợp với bối cảnh mới.
Định kỳ hằng năm tổ chức Diễn đàn Nhân dân. Tập trung xây dựng cơ chế, quy chế tổ chức: hướng dẫn thống nhất về nội dung, hình thức, quy trình tổ chức Diễn đàn Nhân dân từ Trung ương tới cơ sở. Đổi mới phương thức tổ chức: Tổ chức theo hình thức đối thoại trực tiếp, kết hợp trực tuyến, mở rộng kênh tiếp nhận ý kiến Nhân dân qua nền tảng số, mạng xã hội chính thống. Bảo đảm tính thực chất, hiệu quả: Nội dung tập trung vào những vấn đề lớn, bức thiết của Nhân dân; phát huy trách nhiệm giải trình của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Tăng cường sự tham gia của Nhân dân: Tạo điều kiện để mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài, giới trẻ, phụ nữ… có tiếng nói và đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền. Kết nối và lan tỏa: Tổng hợp, báo cáo kết quả diễn đàn, công khai với Nhân dân; khen thưởng, biểu dương kịp thời những ý kiến, sáng kiến tiêu biểu; nhân rộng cách làm hay. Gắn với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: Kết quả diễn đàn là kênh quan trọng để đảng ủy, cấp ủy các cấp nắm bắt tình hình, bổ sung, hoàn thiện chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo.
2.1.2. Tăng cường vận động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động Nhân dân theo hướng thiết thực, phù hợp với từng nhóm đối tượng và từng địa bàn dân cư. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, nền tảng số, mạng xã hội để lan tỏa thông điệp đoàn kết, yêu nước, phát triển bền vững. Xây dựng thế trận lòng dân, trong đó chú trọng phát huy vai trò của người có uy tín, chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản trong xây dựng khối đại đoàn kết; vai trò liên minh giai cấp giữa công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; vai trò của đối ngoại nhân dân trong kết nối và thu hút sự tham gia hiệu quả của người Việt Nam ở nước ngoài trong xây dựng hình ảnh quốc gia, kết nối các nguồn lực ở nước ngoài cho phát triển.... Quan tâm phát triển đội ngũ doanh nhân, trí thức, văn nghệ sĩ, người Việt Nam ở nước ngoài, phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh, cựu công an nhân dân, cựu thanh niên xung phong, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo… trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy vai trò kết nối nguồn lực xã hội, khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đồng hành cùng các phong trào thi đua, chương trình an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới.
2.1.3. Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả
Tổ chức thực hiện nghiêm túc Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 60-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ các tổ chức phù hợp với thực tiễn, khắc phục tình trạng chồng chéo. Gắn sắp xếp tổ chức đảng với đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức lại hệ thống chính trị. Tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy tham mưu, giúp việc cấp ủy, bảo đảm rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ công tác. Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác. Phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa cấp ủy, lãnh đạo cơ quan và tổ chức đoàn thể. Tăng cường giám sát quá trình sắp xếp, kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc từ cơ sở. Phát huy vai trò cấp ủy các cấp trong việc cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo-Nhà nước quản lý-Nhân dân làm chủ” trong mô hình tổ chức mới.
2.1.4. Nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng, chính quyền
Lựa chọn nội dung giám sát, phản biện xã hội bám sát các vấn đề thiết thực với đời sống Nhân dân và nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền trong tiếp nhận, xử lý kết quả giám sát, phản biện xã hội. Tăng cường giám sát việc thực hiện các chương trình phối hợp, công tác dân vận và phản biện xã hội của các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Trọng tâm là giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các vấn đề bức xúc, nổi cộm; tăng cường hướng dẫn, giám sát các địa phương trong quản lý, sử dụng các quỹ và tiếp nhận, phân bổ nguồn vận động ủng hộ xóa nhà tạm, nhà dột nát, đảm bảo hiệu quả, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tiếp công dân và tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh, tố cáo về tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Tổ chức các cuộc đối thoại, tiếp xúc định kỳ giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân để lắng nghe và phản hồi kịp thời. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trong tham mưu, góp ý xây dựng thể chế, chính sách và hoàn thiện pháp luật. Tổ chức phản biện các dự thảo văn bản lớn gắn với phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Phát huy vai trò của trí thức, chuyên gia, doanh nhân, cán bộ hưu trí, hội đồng tư vấn trong tham gia phản biện chính sách. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, lưu trữ, theo dõi kết quả giám sát. Tổ chức các cuộc khảo sát, đánh giá độc lập về sự hài lòng của người dân đối với hoạt động của doanh nghiệp, chính quyền và hệ thống chính trị.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thể chế hóa thành quy trình bắt buộc đối với chủ trương: Dân biết-dân bàn-dân làm-dân kiểm tra-dân giám sát-dân thụ hưởng; ban hành bộ tiêu chí “3 công khai-3 giám sát”: công khai mục tiêu-nguồn lực-tiến độ; giám sát bởi Nhân dân-Mặt trận-Báo chí. Mọi chương trình an sinh có mốc thời hạn, chuẩn đầu ra, chỉ số tác động; kết thúc mỗi quý phải đánh giá công khai, lấy ý kiến người thụ hưởng với sự tham gia của đại diện người lao động, doanh nghiệp, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể.
2.1.5. Chủ động, tích cực tham gia công tác bầu cử và nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri
Tham gia chuẩn bị tốt mọi điều kiện về nhân sự, cơ cấu, thành phần, kỹ thuật phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Tổ chức hiệp thương dân chủ, đúng quy định, bảo đảm lựa chọn những người đủ đức, đủ tài tham gia cơ quan quyền lực nhà nước. Đổi mới hình thức tiếp xúc cử tri, mở rộng tiếp xúc theo ngành, theo chuyên đề. Phát huy vai trò cầu nối của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc tổng hợp, phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của cử tri và Nhân dân. Tổ chức giám sát việc thực hiện chương trình hành động của đại biểu dân cử và các cam kết với cử tri sau bầu cử. Tăng cường ứng dụng nền tảng số trong tổng hợp ý kiến, kiến nghị cử tri theo vùng, lĩnh vực. Thực hiện đồng bộ trách nhiệm giám sát việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan dân cử. Tăng cường ứng dụng nền tảng số trong thu thập, xử lý, tổng hợp, phản hồi ý kiến cử tri.
2.1.6. Tham gia tích cực, có hiệu quả trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Tổ chức các diễn đàn Nhân dân góp ý xây dựng đạo đức công vụ, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ sớm, từ xa. Tham gia giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên, công tác quản lý, sử dụng công sản theo quy định. Tham gia giám sát trách nhiệm người đứng đầu trong công khai, minh bạch tài sản, thu nhập. Kết nối chặt chẽ giữa công tác giám sát của Đảng với giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Tham gia phát hiện, kiến nghị xử lý nghiêm các hành vi bao che, né tránh trách nhiệm trong cán bộ, công chức. Tăng cường truyền thông về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trên các phương tiện truyền thông. Phối hợp tổ chức Giải Báo chí toàn quốc về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Khuyến khích người dân phản ánh, tố cáo hành vi tiêu cực thông qua các kênh chính thức của Mặt trận và các tổ chức thành viên. Góp ý xây dựng cơ chế phòng ngừa xung đột lợi ích trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
2.1.7. Đẩy mạnh hoạt động cứu trợ, nhân đạo, chăm lo an sinh xã hội, vì cuộc sống cộng đồng
Phát động sâu rộng Tháng cao điểm “Vì người nghèo”, Ngày “Vì người nghèo”, các chương trình an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế, người gặp khó khăn. Đa dạng hóa nguồn lực huy động từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho Quỹ “Vì người nghèo” và các chương trình xã hội khác. Chủ động cứu trợ kịp thời các trường hợp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh. Đa dạng hóa các hình thức vận động xã hội hóa, kết nối nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Thực hiện hiệu quả chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát, hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo. Phối hợp với chính quyền và doanh nghiệp phát triển mô hình kinh tế cộng đồng, hợp tác xã tại vùng khó khăn. Tăng cường truyền thông nhân đạo, lan tỏa tinh thần tương thân tương ái, nghĩa đồng bào trong xã hội. Xây dựng, nhân rộng các mô hình tự quản, mô hình đại đoàn kết, hỗ trợ cộng đồng trong khu dân cư. Xây dựng hệ thống dữ liệu hộ nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội để quản lý, hỗ trợ hiệu quả. Đẩy mạnh hoạt dộng cứu trợ nhân đạo và chăm lo an sinh xã hội cần lồng ghép trong nước và đẩy mạnh quan hệ quốc tế.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chăm lo việc làm-tiền lương-an toàn lao động; Hội Nông dân Việt Nam chăm lo sinh kế nông thôn xanh-nông nghiệp số-chuỗi giá trị; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chăm lo an sinh gia đình-bình đẳng giới-phòng chống bạo lực; Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chăm lo thanh niên khởi nghiệp-kỹ năng số-tình nguyện cộng đồng; Hội Cựu chiến binh, Hội Cựu Công an nhân dân, Hội Cựu Thanh niên xung phong chăm lo đền ơn đáp nghĩa-trật tự, kỷ cương cộng đồng. Bên cạnh đó, thiết lập Quỹ trợ giúp khẩn cấp cộng đồng cấp tỉnh; thí điểm bảo hiểm rủi ro cộng đồng cho các nhóm dễ tổn thương; liên kết tôn giáo, doanh nghiệp, nhà hảo tâm vào chuỗi phúc lợi xã hội minh bạch, có kiểm toán xã hội.
2.1.8. Hoàn thành và đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của hệ thống Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng
Thực hiện chuyển đổi số đồng bộ trong điều hành, quản lý, vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ phục vụ nhân dân. Đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới truyền thông trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phát động phong trào công dân số văn minh đoàn kết đẩy mạnh chuyển đổi số. Tăng cường ứng dụng công nghệ số trong điều hành, quản lý văn bản, họp trực tuyến, tổ chức hội nghị không giấy. Xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu tập trung về hội viên, đoàn viên phục vụ công tác quản lý, vận động. Khai thác hiệu quả trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong nắm bắt dư luận xã hội và hỗ trợ công tác tuyên truyền, giám sát. Xây dựng các nền tảng số, ứng dụng di động phục vụ người dân tương tác với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng. Tổ chức tập huấn, đào tạo kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ từ Trung ương đến cơ sở. Đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội với cơ sở dữ liệu quốc gia và các bộ, ngành liên quan, bảo đảm đồng bộ, liên thông, tránh chồng chéo. Xây dựng trung tâm dữ liệu và phân tích dùng chung, phục vụ dự báo, tham mưu, hoạch định chủ trương, chính sách. Phát triển các mô hình “cơ quan số-cán bộ số-hội viên số”, hướng tới xây dựng hệ sinh thái số toàn diện trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu; ban hành quy chế bảo mật, an toàn thông tin trong sử dụng và khai thác nền tảng số. Tăng cường hợp tác với doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước để triển khai các giải pháp số tiên tiến, phù hợp điều kiện thực tiễn. Khuyến khích Nhân dân phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tư nhân theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, doanh nhân, chuyên gia trong việc thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thực hiện đồng bộ Chương trình hành động số 01-CTr/ĐUMTTQ,CĐTTW, ngày 5/3/2025 của Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tăng cường khảo sát, đánh giá trực tuyến, lấy ý kiến Nhân dân qua nền tảng số. Xây dựng chỉ tiêu, cơ chế kiểm tra, đánh giá tiến độ chuyển đổi số trong từng tổ chức đoàn thể, tổ chức hội.
2.1.9. Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, đạo đức trong sáng, năng lực thực tiễn, khát vọng cống hiến
Tiến hành đánh giá cán bộ định kỳ theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, phẩm chất đạo đức và tín nhiệm từ cơ sở. Tập trung quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới, kỹ năng thực tiễn. Tăng cường luân chuyển cán bộ giữa các vị trí công tác, gắn lý luận với thực tiễn. Bồi dưỡng kỹ năng vận động Nhân dân, tổ chức hoạt động cộng đồng, nắm bắt tâm tư, dư luận xã hội. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số gắn với chiến lược cán bộ lâu dài.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nêu gương trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên. Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Đẩy mạnh phòng ngừa và kiểm soát quyền lực, đấu tranh chống biểu hiện cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm. Tổ chức đào tạo cán bộ về tư duy lãnh đạo, kỹ năng quản lý, chuyển đổi số, công tác vận động quần chúng.
2.1.10. Tăng cường đoàn kết quốc tế, mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân và công tác người Việt Nam ở nước ngoài
Đảng ủy lãnh đạo, chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chủ động, tích cực mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh đối ngoại nhân dân gắn với yêu cầu hội nhập toàn diện, sâu rộng, qua đó lan tỏa các giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của Việt Nam ra thế giới, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Chủ động thiết lập, củng cố và mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, các phong trào nhân dân tiến bộ trên thế giới và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; có hình thức tập hợp, đoàn kết, phát huy trí tuệ, nguồn lực của kiều bào hướng về Tổ quốc.
Phát huy vai trò, trách nhiệm trong các cơ chế, diễn đàn quốc tế; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; duy trì, phát triển quan hệ đối ngoại nhân dân với các tổ chức, cá nhân ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các đối tác chiến lược. Tăng cường hợp tác trong phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo...
2.2. Công tác xây dựng Đảng
2.2.1. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết, kết luận quan trọng của Trung ương.
Tiếp tục thực hiện đồng bộ các nghị quyết của Trung ương về công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đề cao trách nhiệm nêu gương, phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống...[8]. Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng khoa học, hiện đại, kết hợp công nghệ số với các hình thức truyền thống. Tổ chức sinh hoạt chi bộ định kỳ theo chuyên đề; tăng cường nhận diện, đấu tranh phòng ngừa các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành nội dung xuyên suốt trong sinh hoạt đảng, gắn với công tác rèn luyện đạo đức công vụ và thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng Đảng về tư tưởng, đạo đức; gắn kết quả kiểm điểm với phân loại tổ chức đảng và đảng viên. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, thiếu gương mẫu; đồng thời biểu dương, nhân rộng điển hình tiên tiến, mô hình hay trong xây dựng Đảng. Đẩy mạnh tuyên truyền chính trị, nâng cao chất lượng giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức cách mạng và khát vọng cống hiến.
Tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng công tác dự báo, hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng; kiên quyết khắc phục những yếu kém, trì trệ, tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm; kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu.
2.2.2. Công tác xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ
Xác định công tác xây dựng Đảng về tổ chức là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và hiệu quả hoạt động của hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Trung ương. Trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Tập trung triển khai hiệu quả các nghị quyết, kết luận quan trọng của Trung ương về xây dựng tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và bảo vệ chính trị nội bộ. Đẩy mạnh sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan, tổ chức trực thuộc theo hướng rõ chức năng, nhiệm vụ, không chồng chéo, giảm trung gian, đặc biệt là các đơn vị sự nghiệp, cơ quan báo chí. Gắn sắp xếp tổ chức đảng với đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội và hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số và tổ chức lại hệ thống chính trị.
Tham mưu hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền, phân công rõ ràng giữa cấp ủy và lãnh đạo cơ quan, tổ chức khi hoạt động theo mô hình tổ chức mới. Tăng cường quản lý biên chế, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về tổ chức bộ máy đồng bộ với pháp luật của Nhà nước; xây dựng nền tảng dữ liệu số phục vụ công tác cán bộ, quản lý đảng viên, tổ chức đảng, sinh hoạt đảng theo thời gian thực.
Chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, chi ủy, phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo, kịp thời nắm bắt, xử lý vấn đề phát sinh từ cơ sở; thực hiện nghiêm túc quy định về sinh hoạt đảng. Tổ chức đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, đạo đức, tinh thần đổi mới, sáng tạo.
Đẩy mạnh phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp, nhất là khu vực ngoài nhà nước, gắn với phát triển đảng viên là công nhân, cán bộ quản lý doanh nghiệp, người có tôn giáo, trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nhân,...
Chú trọng công tác cán bộ, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, gắn rõ quyền hạn và trách nhiệm cá nhân. Tập trung xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, nhất là bí thư chi bộ ở cơ sở, có bản lĩnh chính trị, đạo đức, kỹ năng công tác đảng, khả năng cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết. Tiếp tục đổi mới, thực hiện đồng bộ công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ theo hướng mở, kế thừa và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới. Quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ... Tăng cường kiểm soát quyền lực, khắc phục bất cập trong công tác cán bộ. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, gây mất đoàn kết nội bộ; bảo đảm Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, xứng đáng với vai trò lãnh đạo toàn diện hệ thống Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.
Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên việc phát triển đảng viên, sinh hoạt đảng, trách nhiệm nêu gương. Quản lý chặt chẽ hồ sơ đảng viên, đảng viên đi học, công tác ở nước ngoài. Kiên quyết không để lọt người không đủ tiêu chuẩn vào cấp ủy, bộ máy lãnh đạo, khắc phục biểu hiện hình thức, né tránh trong đánh giá, phân loại tổ chức đảng và đảng viên.
Quan tâm xây dựng môi trường văn hóa đảng trong cơ quan, đơn vị, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng. Đổi mới hình thức sinh hoạt chuyên đề phù hợp từng đoàn thể, tạo chuyển biến thực chất trong nhận diện và xử lý các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lan tỏa mô hình chi bộ bốn tốt, đảng bộ cơ sở bốn tốt trong toàn hệ thống. Triển khai thực hiện các giải pháp phòng, chống biểu hiện bè phái, lợi ích nhóm, chia rẽ nội bộ trong Đảng bộ; bảo đảm Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, xứng đáng với vai trò lãnh đạo toàn diện trong hệ thống chính trị Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Trung ương.
2.2.3. Công tác xây dựng Đảng về kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng
Tiếp tục xác định công tác xây dựng Đảng về kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi nhiệm vụ chính trị trong toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp; cụ thể hóa và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng, nhất là Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương, Quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, Điều lệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt tại những nơi dễ phát sinh vi phạm, nơi có dư luận, bức xúc về công tác cán bộ, quản lý tài sản công, đạo đức, lối sống, tư tưởng chính trị. Chú trọng kiểm tra, giám sát việc khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau kiểm tra; gắn kiểm tra với “tự soi”, “tự sửa”, phát hiện sớm sai phạm từ bên trong để chủ động ngăn chặn, phòng ngừa từ xa.
Đẩy mạnh phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu kiểm tra, giám sát, tích hợp công nghệ số nhằm cảnh báo sớm, phát hiện vi phạm, phục vụ quản lý, theo dõi kịp thời, chính xác. Thực hiện nghiêm nguyên tắc công khai kết quả kiểm tra, giám sát theo quy định, gắn với trách nhiệm giải trình.
Kiện toàn tổ chức bộ máy ủy ban kiểm tra các cấp trong Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, bảo đảm tinh gọn, chuyên sâu, hoạt động hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, am hiểu nghiệp vụ, công tâm, khách quan, không né tránh, không bao che. Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, biểu dương mô hình hiệu quả, nhân rộng cách làm tốt.
Thực thi kỷ cương, thi đua thiết thực-kiểm tra đến cùng. Áp dụng công thức 3 dễ - 3 rõ - 3 đo: dễ hiểu-dễ nhớ-dễ làm; rõ mục tiêu - rõ trách nhiệm - rõ thời hạn; đo đầu vào - đo đầu ra - đo tác động. Mỗi tổ chức thành viên đăng ký “mỗi quý một kết quả lớn”, “mỗi năm hai đột phá”; công khai trên bảng theo dõi điện tử. Tăng cường kiểm tra, giám sát, khen thưởng - kỷ luật nghiêm minh; không bao biện làm thay, không né tránh va chạm, không chạy theo thành tích.
2.2.4. Công tác xây dựng Đảng về dân vận và lãnh đạo các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng
Cấp ủy các cấp lãnh đạo và tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương phát huy đúng chức năng, không hành chính hóa; ra đề bài rõ ràng, phân bổ nguồn lực minh bạch, gỡ rào cản cho cơ sở; định kỳ đối thoại với Nhân dân. Đảng viên công tác trong hệ thống Mặt trận và đoàn thể phải là hạt nhân nòng cốt, giữ “3 gần”: gần dân, gần cơ sở, gần không gian số; “5 phải”: phải lắng nghe, phải đối thoại, phải làm mẫu, phải chịu trách nhiệm, phải báo cáo kết quả; “4 không”: không hình thức, không né tránh, không đùn đẩy, không làm sai chức năng.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận trong tình hình mới theo phương châm “dân là gốc”; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân. Tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới, gắn với thực hiện dân chủ ở cơ sở, đạo đức công vụ và phương châm hành động: “Trọng dân - Gần dân - Hiểu dân - Học dân - Có trách nhiệm với dân”. Lãnh đạo các tổ chức đoàn thể đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng theo hướng bám sát cơ sở, sát thực tiễn, linh hoạt, thích ứng với yêu cầu phát triển mới. Tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn trong Nhân dân, nhất là phong trào “Dân vận khéo” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo Quyết định số 217 và số 218 của Bộ Chính trị; tổ chức thực chất các cuộc tiếp xúc, đối thoại định kỳ giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân; nâng cao chất lượng tổng hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân.
Tăng cường nắm bắt tình hình Nhân dân, dư luận xã hội, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo; kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Gắn công tác dân vận với việc triển khai các chính sách phát triển kinh tế-xã hội ngay từ cơ sở; phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng, người tiêu biểu trong các tôn giáo, trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nhân…
Lãnh đạo kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Mặt trận, đoàn thể các cấp theo hướng trí tuệ, trách nhiệm, gần dân, sát dân, vì dân; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Khuyến khích xây dựng các mô hình dân vận sáng tạo gắn với các phong trào thi đua, nhiệm vụ chính trị trọng tâm của từng thời kỳ.
Đẩy mạnh truyền thông, tuyên truyền về công tác dân vận, hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng; phát triển các nền tảng dân vận số, công cụ phản ánh nhanh, khảo sát trực tuyến, kênh tiếp nhận và phản hồi thông tin hai chiều giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác dân vận trong toàn hệ thống chính trị, gắn với tiêu chí đánh giá thi đua hằng năm của các tổ chức hội.
2.2.5. Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng bộ trong điều kiện mới; cụ thể hóa và thể chế hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo-Nhà nước quản lý-Nhân dân làm chủ” trong tổ chức và hoạt động của Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương. Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong Đảng bộ. Nghiên cứu mô hình, tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển lý luận các vấn đề về cơ chế làm chủ của Nhân dân. Xây dựng, ban hành nghị quyết của cấp ủy theo hướng ngắn gọn, hành động, sát thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm.
Tập trung nâng cao năng lực tư duy chiến lược, dự báo, tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả trong hoạt động của cấp ủy; hoàn thiện cơ chế phối hợp, quy chế làm việc, quy trình công tác bảo đảm rõ nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng.
Đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc theo hướng gần dân, sát cơ sở, khoa học, dân chủ, linh hoạt và hiện đại; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cấp ủy viên và người đứng đầu.
Nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo cơ quan, tổ chức trong tham gia công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị. Kiện toàn tổ chức bộ máy tham mưu, giúp việc cấp ủy, đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng bộ, phân cấp rõ ràng, xác định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp ủy và tổ chức đảng.
Đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt cấp ủy, chi bộ theo hướng thực chất, gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị. Thể chế hóa trách nhiệm xây dựng, giám sát thực hiện nghị quyết của cấp ủy với “5 rõ”: rõ mục tiêu, rõ đầu việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy; xây dựng hệ thống quản trị số trong Đảng bộ. Vận hành nền tảng dữ liệu số về cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng; áp dụng phần mềm quản lý sinh hoạt chi bộ, nghị quyết, văn bản và công việc hàng ngày.
Tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động số 01-Ctr/ĐUMTTQ,CĐTTW, ngày 5/3/2025 của Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Xây dựng lộ trình, chỉ tiêu cụ thể và cơ chế kiểm tra, giám sát tiến độ chuyển đổi số trong từng đảng bộ, chi bộ trực thuộc.
Cải tiến chế độ giao ban, họp cấp ủy chuyên đề, chế độ báo cáo, đánh giá kết quả công tác theo hướng thực chất, tiết kiệm, hiệu quả. Tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe cán bộ, đảng viên và Nhân dân; sử dụng công cụ số để khảo sát, lấy ý kiến, thu thập phản hồi từ cơ sở.
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên về tư duy lãnh đạo, kỹ năng quản lý, chuyển đổi số, làm việc trong môi trường hiện đại. Chăm lo xây dựng, củng cố và phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo của cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị; đưa nội dung nêu gương trở thành phương thức lãnh đạo trọng tâm và thường xuyên.
3. Các khâu đột phá
(1) Đổi mới phương thức lãnh đạo theo mô hình mới; tư duy mới, cách làm mới, kết quả mới.
(2) Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, gần dân, sát dân, chủ động phục vụ Nhân dân.
(3) Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bố trí, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị; chú trọng rèn luyện cán bộ qua hoạt động thực tiễn; gắn kết chặt chẽ “lý luận với thực tiễn”, “nói đi đôi với làm”.
*
* *
Với tinh thần “Đoàn kết-Dân chủ-Đổi mới-Sáng tạo-Phát triển”, Đại hội kêu gọi toàn thể đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và người lao động trong toàn Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ qua, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm còn tồn tại; đồng thời, phát huy mạnh mẽ truyền thống đoàn kết, bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương, đổi mới, sáng tạo, chủ động, khát vọng vươn lên; nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
(Kèm theo Báo cáo chính trị này Phụ lục)
| T/M BAN CHẤP HÀNH PHÓ BÍ THƯ ĐÃ KÝ Nguyễn Phi Long |
PHỤ LỤC
KẾT QUẢ NỔI BẬT, MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH TRONG NHIỆM KỲ 2020-2025 CỦA CÁC ĐẢNG BỘ, CHI BỘ TRỰC THUỘC ĐẢNG ỦY MẶT TRẬN TỔ QUỐC, CÁC ĐOÀN THỂ TRUNG ƯƠNG
Giai đoạn 2020-2025, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết của Đảng ủy cấp trên gắn với triển khai nghị quyết đại hội các đảng bộ, chi bộ trực thuộc Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, ghi nhận một số kết quả nổi bật, mô hình điển hình trong toàn Đảng bộ:
* Đảng bộ Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Đảng bộ đã tập trung triển khai Đề án sắp xếp, hợp nhất các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; triển khai thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ gắn với lộ trình ở các cấp. Trong nhiệm kỳ, hệ thống Mặt trận Tổ quốc đã tổ chức gần 86.000 hội nghị phản biện xã hội ở các cấp, tập hợp trên 8,3 triệu lượt ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhân vào dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, triển khai hơn 200.000 cuộc giám sát đã khẳng định những đóng góp quan trọng của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; giám sát và phản biện xã hội, tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Bên cạnh đó, triển khai thiết thực, hiệu quả, tạo sức lan tỏa các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phối hợp như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, “Đoàn kết, sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, hội nhập quốc tế”, “Vì người nghèo-Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vị cả nước trong năm 2025”… Qua đó, hàng trăm ngàn tỷ đồng được huy động từ các nguồn lực trong các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài thông qua hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để hỗ trợ xây dựng nhà đại đoàn kết cho người nghèo, cứu trợ thiên tai, bão lũ, an sinh xã hội, phòng, chống dịch bệnh như: ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid-19, quỹ vắc xin phòng Covid-19 trị giá trên 18.000 tỷ đồng; ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 3 Yagi gây ra năm 2024 được trên 5.300 tỷ đồng; triển khai Đề án vận động hỗ trợ làm nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo của tỉnh Điện Biên và đã hoàn thành 5.000 căn nhà năm 2024 và hỗ trợ 500 căn nhà của 5 tỉnh Tây Bắc; Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức gặp mặt tri ân, tặng quà cho hơn 20.000 chiến sĩ Điện Biên, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến trực tiếp tham gia chiến dịch nhân dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ;….
* Đảng bộ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng ủy Tổng Liên đoàn đã lãnh đạo, chỉ đạo tập trung nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động với các hình thức phong phú, đa dạng được đoàn viên, người lao động, người sử dụng lao động và xã hội đánh giá cao; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, hướng mạnh các hoạt động công đoàn về các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước; tổ chức nhiều chương trình đối thoại, diễn đàn, tiếp xúc cử tri chuyên đề để lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng người lao động, giải quyết kịp thời những vấn đề đoàn viên, người lao động quan tâm bức xúc, giảm thiểu đáng kể các cuộc đình công, ngừng việc tập thể. Trong đó, tập trung đẩy mạnh phong trào “Lao động giỏi-Lao động sáng tạo”, “tham mưu giỏi, phục vụ tốt”, thi đua hưởng ứng các phong trào do Thủ tướng Chính phủ phát động: Chương trình “75 nghìn sáng kiến vượt khó, phát triển” với 250.117 sáng kiến, tổng gí trị làm lợi ước tính 1.811 tỷ đồng/năm và Chương trình “1 triệu sáng kiến-nỗ lực vượt khó, sáng tạo, quyết tâm chiến thắng đại dịch Covid-19” với 2,4 triệu sáng kiến làm lợi ước tính 33.000 tỷ đồng; phong trào thi đua xây dựng đường dây 500KV mạch 3 từ Quảng Trạch (Quảng Bình) đến Phố Nối (Hưng Yên)…
* Đảng bộ Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhiệm kỳ 2020-2025, toàn Đảng bộ đã triển khai các mô hình, chương trình mang lại kết quả thiết thực như: (1) “Phong thư góp ý” của Chi ủy Chi bộ Chính sách-Luật pháp đã phát huy hiệu quả rõ rệt trong việc tăng cường dân chủ, củng cố đoàn kết và tạo dựng văn hóa góp ý xây dựng trong Chi bộ; thông qua các ý kiến gửi gắm trong phong thư, Chi ủy và lãnh đạo Ban kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, đề xuất của cán bộ, đảng viên để lắng nghe, trao đổi, giải quyết thấu đáo; các cuộc đối thoại định kỳ được tổ chức công khai, dân chủ, đảm bảo mọi ý kiến được tiếp thu nghiêm túc và ban hành kết luận thực hiện rõ ràng. (2) “Sổ vàng ghi danh” của Chi bộ Ban Tổ chức-Kiểm tra đã kịp thời động viên, khích lệ và ghi nhận sự nỗ lực của đảng viên, từ đó giúp đảng viên thêm tự tin và tích cực cống hiến cho cơ quan, tổ chức; là một trong những căn cứ quan trọng để xét khen thưởng cuối năm, nhiệm kỳ của chi bộ và xét khen thưởng khi sơ kết, tổng kết việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. (3) Phương châm hành động “5T” (trí tuệ, tiên phong, thông hiểu, trách nhiệm, tận tâm) gắn với việc đăng ký “Hai tốt” (tốt cho bản thân, tốt cho cơ quan) của mỗi cán bộ, đảng viên của Chi bộ Ban Tuyên giáo đã góp phần nâng cao chất lượng tham mưu, hiệu quả công việc của Chi bộ, của Ban, cụ thể như trong 10 sự kiện, hoạt động nổi bật của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hàng năm đều có ít nhất 01 hoạt động/sự kiện do Ban Tuyên giáo tham mưu. (4) “Đảng viên Giám sát-Tổ chức đảng đồng hành” của Chi bộ Trung tâm Hỗ trợ Phụ nữ phát triển đã nâng cao tính chủ động, tự giác chấp hành của cán bộ, đảng viên và người lao động; phát huy vai trò kiểm tra-giám sát của tổ chức đảng trong công tác quản lý; hạn chế được các hiện tượng thiếu nghiêm túc, trễ giờ, vi phạm nội quy... trong quá trình tổ chức hoạt động; góp phần bảo đảm chất lượng, hiệu quả, sự thống nhất và an toàn tuyệt đối trong các sự kiện chính trị-xã hội của đơn vị. (5) chương trình “Mẹ đỡ đầu”-dấu ấn nhân văn sâu sắc của Chi bộ Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam để hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi do tác động của dịch Covid-19 tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh triển khai từ tháng 5/2022 với 63 trẻ em mồ côi đã được nhận đỡ đầu thông qua sự kết nối của Chi đoàn và cán bộ, nhân viên Nhà xuất bản, cụ thể trường hợp em Võ Đình Long (sinh năm 2013), mồ côi cả cha lẫn mẹ sống với ông nội ngoài 90 tuổi được hỗ trợ 1 triệu đồng/tháng cho đến năm 18 tuổi; 21 trẻ em được cán bộ, nhân viên và người thân trong Nhà xuất bản nhận đỡ đầu với mức hỗ trợ 300.000 đồng/tháng, cam kết tối thiểu 3 năm; 41 trường hợp còn lại được vận động thông qua mạng lưới bạn đọc, nhà hảo tâm và cộng đồng kết nối từ hoạt động truyền thông của Nhà xuất bản… tổng kinh phí huy động đến tháng 6/2025 đạt hơn 600 triệu đồng, được quản lý và sử dụng minh bạch, đúng mục đích, kịp thời…
* Đảng bộ Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Trong nhiệm kỳ qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Trung ương Đoàn lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2020-2025 được triển khai nghiêm túc, kịp thời và có nhiều đổi mới. Các nội dung của Nghị quyết và Chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2020-2025 được triển khai đầy đủ, đảm bảo tiến độ, chất lượng. Công tác chính trị, tư tưởng, đạo đức có nhiều chuyển biến tích cực; việc tổ chức học tập quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đảng ủy cấp trên được triển khai đầy đủ, kịp thời, vận dụng tốt hệ thống công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác giáo dục, tuyên truyền. Việc tổ chức biểu dương điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được triển khai hiệu quả. Công tác Ban Chỉ đạo 35 được triển khai nghiêm túc, quyết liệt và đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, Đảng bộ Trung ương Đoàn đã quán triệt, học tập sâu rộng các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Đảng ủy cấp trên, các văn bản, bài phát biểu của Tổng Bí thư, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Luật Thanh niên 2020, Chiến lược phát triển Thanh niên 2021-2030; triệu tập hơn 18.951 lượt cán bộ, đảng viên tham dự 27 hội nghị trực tuyến của Trung ương, Đảng uỷ cấp trên và của Đảng ủy Trung ương Đoàn. Chỉ đạo các cấp bộ đoàn thực hiện gần 11.000 công trình thanh niên nơi biên giới, hải đảo, trị giá hơn 86,7 tỷ đồng; hơn 481.000 học sinh, sinh viên được trao học bổng, hơn 323.200 học sinh, sinh viên được vay vốn tín dụng; hỗ trợ 5.336 tỷ 256 triệu đồng cho thanh niên làm kinh tế; hỗ trợ 2.626 dự án khởi nghiệp sáng tạo của thanh niên; tư vấn, hướng nghiệp cho gần 7 triệu lượt thanh thiếu niên, giới thiệu việc làm cho hơn 1,4 triệu thanh niên…
* Đảng bộ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
Trong nhiệm kỳ qua, Đảng ủy Trung ương Hội Nông dân lãnh đạo, chỉ đạo các cấp hội triển khai thực hiện hiệu quả phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” đã lan tỏa và phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp nhau xoá đói giảm nghèo, thi đua làm giàu trong hội viên, nông dân; hằng năm đã tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động, trên 1,5 triệu lao động có việc làm ổn định; các hộ sản xuất, kinh doanh giỏi đã giúp trên 815 nghìn lượt hộ nghèo, hộ khó khăn về cây, con giống, vật tư nông nghiệp... trị giá trên 6,7 nghìn tỷ đồng; trên 108 nghìn hộ thoát nghèo và đang vươn lên làm ăn khá giả; đóng góp xây dựng hàng nghìn căn nhà tình thương, nhà tình nghĩa, mái ấm nông dân và giúp trên 1,2 triệu hộ nghèo có thêm nguồn lực để phát triển sản xuất; đóng góp hàng trăm tỷ đồng cho các quỹ địa phương, góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Phong trào “Cán bộ, hội viên nông dân tích cực tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp”, qua 1 năm triển khai đã lan tỏa, thu hút hội viên, nông dân tích cực hưởng ứng tham gia, kết quả thực hiện đều đạt và vượt so với chỉ tiêu đề ra với 679 hợp tác xã nông nghiệp thành lập mới (gấp 3,82 lần chỉ tiêu kế hoạch năm và gấp 5,43 lần so với chỉ tiêu theo Quyết định 182/QĐ-TTg), 3.772 tổ hợp tác trong nông nghiệp (tương ứng gấp 3,77 lần và gấp 5,03 lần), thu hút 745.813 hộ hội viên, nông dân tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã (gấp 1,65 lần và gấp 2,86 lần); thành lập 1.552 chi Hội Nông dân nghề nghiệp, 7.353 tổ Hội Nông dân nghề nghiệp (tương ứng gấp 2,50 lần và 1,41 lần chỉ tiêu kế hoạch năm); bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ Hội làm công tác hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, cán bộ chủ chốt và thành viên hợp tác xã, chi Hội trưởng chi Hội Nông dân với 121.704 người tham dự (gấp 1,82 lần chỉ tiêu kế hoạch năm, đạt chỉ tiêu theo Quyết định 182/QĐ-TTg). Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được các cấp Hội triển khai hiệu quả, thiết thực vận động hội viên, nông dân tích cực tham gia góp ý các chương trình, dự án, hiến trên 10 triệu m2 đất, đóng góp trên 16 nghìn tỷ đồng, trên 12 triệu ngày công lao động, sửa chữa, bê-tông hóa trên 15 nghìn km đường giao thông nông thôn; kiên cố hóa, sửa chữa trên 39 nghìn km kênh mương, xây dựng 41.608 mô hình bảo vệ môi trường nông thôn và thích ứng với biến đổi khí hậu... Các cấp Hội đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền và vận động cán bộ, hội viên, nông dân tích cực hưởng ứng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tích cực tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm nông nghiệp-thương mại để hỗ trợ kết nối tiêu thụ hàng hóa, nông sản; tập trung xây dựng, duy trì hoạt động của 726 cửa hàng nông sản an toàn; liên kết, giới thiệu, kết nối tiêu thụ trên 3.000 sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng địa phương. Tích cực tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc” xây dựng và duy trì 12.263 mô hình tự quản về an ninh trật tự, góp phần giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội ở nông thôn... Hội Nông dân Việt Nam tổ chức phát động Chương trình “Triệu phần quà, nghìn tấn nông sản nghĩa tình” cùng cả nước vượt qua dịch bệnh Covid-19, các cấp Hội đã vận động cán bộ, hội viên, nông dân, các doanh nghiệp, tổ chức, nhà hảo tâm đóng góp ủng hộ, giúp đỡ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19, nhất là tại các địa phương thực hiện giãn cách xã hội gần 13.000 tấn nông sản; tiền mặt và các loại hàng hóa thiết yếu trị giá gần 210 tỷ đồng. Hưởng ứng Chương trình “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” do Thủ tướng Chính phủ phát động, các cấp Hội đã vận động, hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 13.432 hộ nông dân nghèo...
* Đảng bộ Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ đã quán triệt, triển khai nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt các nhiệm vụ của cơ quan Trung ương Hội đề ra. Trong đó, tập trung chỉ đạo các cấp Hội động viên hội viên cựu chiến binh nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, giúp nhau giảm nghèo làm kinh tế giỏi; tích cực tham gia chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và bảo vệ môi trường, góp phần phát triển kinh tế địa phương ở 38/63 tỉnh, thành Hội, 417/702 huyện, thị cơ bản xóa hết hộ cựu chiến binh nghèo, tỷ lệ hộ cựu chiến binh nghèo giảm từ 1,53% xuống còn 1,56%, hộ khá và giàu đạt 56,57%, xóa 18.803 nhà dột nát, nhà tạm; giải quyết việc làm cho 739.585 cựu chiến binh và con cháu hội viên, vay vốn ủy thác Ngân hàng Chính sách xã hội được 28.503 tỷ đồng; trong đại dịch Covid-19 toàn Hội vận động quyên góp ủng hộ tổng số tiền 791 tỷ đồng, riêng cơ quan Trung ương Hội ủng hộ số tiền 167 triệu đồng. Tham mưu, chỉ đạo xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị và Đề án của Đảng đoàn Quốc hội về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; tham gia, góp ý xây dựng dự thảo luật, văn bản quy phạm pháp luật; ký kết và tổ chức thực hiện Quy chế phối hợp với Bộ Quốc phòng về công tác pháp luật; đồng thời, chỉ đạo các cấp Hội làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, tiếp nhận giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo; trợ giúp pháp lý và hướng dẫn, giải quyết chế độ chính sách liên quan đến quyền lợi của cựu chiến binh theo đúng quy định của pháp luật và Điều lệ Hội, không để xảy ra tình trạng đơn, thư tồn đọng, kéo dài. Cụ thể trong 5 năm qua, Trung ương Hội đã góp ý 05 dự thảo luật, 470 lượt văn bản quy phạm pháp luật; tiếp 148 lượt công dân đến kiến nghị, phản ánh, đưa đơn khiếu nại, tố cáo; tiếp nhận và giải quyết 1.007 đơn yêu cầu tư vấn, trợ giúp pháp lý, chế độ, chính sách liên quan đến quyền lợi của cựu chiến binh…
* Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Trong nhiệm qua, phát huy vai trò thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp Hội ở Trung ương và địa phương đặc biệt chú trọng công tác tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; tích cực hưởng ứng, chỉ đạo Hội thành viên, các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Liên hiệp Hội các cấp đã chủ trì, phối hợp tổ chức trên 40.000 hội thảo, tọa đàm, các chương trình tập huấn nâng cao kỹ năng nghiệp vụ báo chí, truyền thông và phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật cho hơn 13 triệu người tham dự; tập hợp đông đảo chuyên gia, trí thức ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau để thực hiện trên 3.000 nhiệm vụ tư vấn, phản biện, góp ý vào vấn đề quan trọng liên quan đến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các dự án trọng điểm phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Giai đoạn 2021-2025, Liên hiệp Hội đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục đẩy mạnh phong trào quần chúng tham gia hoạt động sáng tạo khoa học và công nghệ, thông qua định kỳ tổ chức Giải thưởng sáng tạo khoa học-công nghệ Việt Nam, Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc, Cuộc thi sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng đã lan tỏa rộng rải trên phạm vi toàn quốc với gần 5.000 công trình, đề tài, giải pháp kỹ thuật tham dự, trong đó có 800 công trình đoạt giải được Liên hiệp Hội lựa chọn, tổ chức các đoàn tham gia triển lãm sáng tạo khoa học và công nghệ tại các nước Hàn Quốc, Malaixia, Thái Lan… để giới thiệu, thương mại hóa các sản phẩm khoa học và công nghệ của Việt Nam, cũng là dịp giao lưu, trao đổi với các nhà khoa học trên thế giới…
Một sự kiện ghi dấu ấn của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam vào ngày 30/12/2024 tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm cùng lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã có cuộc gặp gỡ đội ngũ trí thức Việt Nam. Liên hiệp Hội Việt Nam được cử 60 đại biểu trong tổng số 150 đại biểu được mời dự. Tại cuộc gặp mặt, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu những đóng góp quan trọng của đội ngũ trí thức, nhà khoa học đối với sự phát triển của đất nước trên nhiều lĩnh vực. Trong đó khẳng định thành quả cách mạng, đặc biệt là thành tựu vĩ đại đã đạt được của đất nước sau 40 năm đổi mới có sự đóng góp đặc biệt quan trọng của đội ngũ trí thức, các nhà khoa học.
* Đảng bộ Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trong nhiệm qua, công tác xây dựng, phản biện chính sách, pháp luật đã trở thành điểm sáng, thể hiện vai trò quan trọng của Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCL), tiếng nói đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp trong tiến trình cải cách thể chế quốc gia với số lượng 1.644 văn bản được triển khai góp ý (tăng 240% so với nhiệm kỳ trước), 625 hội nghị, hội thảo, tọa đàm tham vấn chính, qua đó nhiều đề xuất và kiến nghị có giá trị của VCCI đã được các cơ quan soạn thảo ghi nhận, đánh giá cao, tiếp thu và cụ thể hóa trong quá trình hoàn thiện chính sách kinh tế, pháp luật kinh doanh. Lãnh đạo công tác hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đi vào thực chất, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng nhanh của doanh nghiệp trong bối cảnh mới và thực hiện tốt chức năng đại diện người sử dụng lao động, trong đó đã số hóa đào tạo bồi dưỡng phát triển doanh nghiệp, doanh nhân cho 3.148 lượt người tham gia, 200.000 lượt doanh nghiệp tham gia các khóa đào tạo bồi dưỡng phát triển doanh nghiệp, doanh nhân. Đồng thời, chủ động lãnh đạo công tác kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập quốc tế, góp phần nâng tầm vị thế doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế và đã tổ chức 300 hoạt động xúc tiến thương mại với trên 500.000 lượt doanh nghiệp tham gia; tư vấn liên quan đến thương mại quốc tế lên tới 39 lượt doanh nghiệp; tiếp 113 đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc tại Việt Nam; cấp khoảng 2,2 triệu bộ giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O và GCN) cấp cho doanh nghiệp…
* Đảng bộ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
Trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ Liên minh Hợp tác xã tham mưu xây dựng Luật Hợp tác xã năm 2023 được Quốc hội khóa XV thông qua, đây là một bước ngoặt lớn, thể hiện vai trò chủ động, tích cực của hệ thống Liên minh Hợp tác xã trong tham gia xây dựng thể chế. Hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đã tổ chức tôn vinh 100 hợp tác xã tiêu biểu, trao giải CoopStar Awards năm 2024 và 2025, tôn vinh sản phẩm tiêu biểu của hợp tác xã, giải thưởng Mai An Tiêm nhằm động viên, khích lệ tinh thần đổi mới, sáng tạo của các hợp tác xã. Liên minh Hợp tác xã đã tư vấn xây dựng điều lệ, phương án sản xuất kinh doanh, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 12.899 hợp tác xã; tổ chức 808 lớp đào tạo và bồi dưỡng cho hơn 40.000 lượt cán bộ quản lý hợp tác xã và thành viên, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của khu vực kinh tế tập thể; tổ chức 20 hội chợ quốc gia với hơn 2.600 gian hàng, kết nối sản phẩm hợp tác xã đến hệ thống phân phối hiện đại như SaigonCoop, hỗ trợ hàng nghìn hợp tác xã tiếp cận thương mại điện tử và thị trường quốc tế; xây dựng 175 mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị ở 63 tỉnh, thành cùng với 1.075 mô hình hợp tác xã do Liên minh Hợp tác xã cấp tỉnh phối hợp triển khai, tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, ứng dụng công nghệ cao và sản xuất an toàn. Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò trong hỗ trợ vốn tín dụng khu vực kinh tế tập thể cho vay gần 1.600 tỷ đồng vào 300 dự án/phương án sản xuất kinh doanh của hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã, thành viên hợp tác xã trong cả nước. Bên cạnh đó, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tăng cường hợp tác quốc tế, vận động nguồn lực trong nước và quốc tế, phát huy tiềm năng, lợi thế của hệ thống Liên minh của hợp tác xã Việt Nam phát triển các hoạt động kinh tế, tạo nguồn thu, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã cho đến nay đã thiết lập hợp tác với trên 150 tổ chức quốc tế; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam là thành viên tích cực, chủ động, có trách nhiệm của Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA-AP), Tổ chức Nghề cá quốc tế (ICFO), Tổ chức Hợp tác Nông dân châu Á (AFGC), là đối tác thứ ba của Tổ chức Lao động quốc tế (LLO)…
* Đảng bộ Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam
Trong nhiệm kỳ qua, Đảng ủy và Đảng đoàn Liên hiệp Hội đã tập trung chỉ đạo các Hội chuyên ngành Trung ương và 63 Hội tỉnh, thành rà soát, đề xuất, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế chính sách đãi ngộ cho văn nghệ sĩ cả nước. Tổ chức thành công các Hội thảo khoa học “Liên hiệp các Hội văn học nhệ thuật Việt Nam: Thực trạng-giải pháp, nhiệm vụ trong thời kỳ mới”; “Nâng cao vị thế, vai trò của giới văn nghệ sĩ-trí thức vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới” dành cho đội ngũ lãnh đạo Hội và văn nghệ sĩ tiêu biểu trong cả nước; Hội thảo khoa học, các trại sáng tác lý luận phê bình, văn học nghệ thuật với chủ đề nhằm kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và thực hiện Kế hoạch tổng kết 50 năm nền văn học nghệ thuật Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất, tổ chức 5 trại sáng tác văn học nghệ thuật với chủ đề Bài ca thống nhất non sông; lớp tập huấn “Nghiệp vụ triển khai công tác hỗ trợ sáng tạo văn học, nghệ thuật giai đoạn 2020-2025” dành cho cấp lãnh đạo, quản lý của 10 Hội chuyên ngành Trung ương và 63 Hội văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố nhằm hướng dẫn các Hội văn học nghệ thuật thực hiện và triển khai đúng mục đích, quy định của Chính phủ trong việc sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật. Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc với phương châm, định hướng là phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất trong ý chí, hành động; liên kết các lực lượng làm công tác văn hóa, văn nghệ, bằng sáng tạo văn học nghệ thuật phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tổ chức sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” giai đoạn 2021-2025. Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam xây dựng Kế hoạch tổ chức Hội nghị tập huấn và Hội thảo khoa học với chuyên đề “Sáng tạo Văn học nghệ thuật trong kỷ nguyên số-Trí tuệ nhân tạo”…
* Đảng bộ Trung ương Hội Luật gia Việt Nam
Nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng ủy Trung ương Hội Luật gia Việt Nam lãnh đạo cấp ủy các chi bộ chủ động phối hợp với lãnh đạo các đơn vị chuyên môn trong công tác nghiên cứu và tổ chức hơn 100 hội nghị, hội thảo, tọa đàm đóng góp ý kiến đối với 30 dự thảo luật, pháp lệnh thuộc chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội; triển khai đóng góp ý kiến một số văn bản quy phạm pháp luật khác theo đề nghị của các cơ quan chủ trì soạn thảo; cử cán bộ tham gia vào các ban soạn thảo, tổ biên tập dự án luật và các chương trình, đề án của Chính phủ và các bộ, ban, ngành. Tích cực tham gia các hội nghị, hội thảo, tọa đàm góp ý xây dựng các dự thảo, văn bản quy phạm pháp luật theo kế hoạch và thực hiện Chương trình hợp tác giai đoạn 2022-2026 giữa Hội Luật gia Việt Nam và Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ký kết. Lãnh đạo các Trung tâm tư vấn pháp luật trực thuộc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý, tham gia giám sát và tư vấn giải quyết khiếu nại, tố cáo và hòa giải ở cơ sở, tăng cường thu hút các nguồn lực xã hội cho công tác này. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác tư vấn pháp luật; giám sát thực hiện pháp luật; nâng cao hiệu quả tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phương, cơ sở, công tác hòa giải ở cơ sở được các cấp hội tham gia tích cực. Lãnh đạo cấp uỷ các chi bộ chủ động phối hợp với lãnh đạo các đơn vị chuyên môn trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai đồng bộ có hiệu quả. Các hoạt động trong chương trình phối hợp với các bộ, ngành (Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bảo hiểm xã hội Việt Nam) được quan tâm triển khai theo kế hoạch đã đề ra. Trung ương Hội tiếp tục cử đại diện của Hội tham gia đầy đủ và có trách nhiệm vào các cuộc họp của Hội đồng Phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương, đồng thời chủ động xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm của Hội đồng Phổ biến giáo dục pháp luật của Hội Luật gia Việt Nam...
* Đảng bộ Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam
Trong nhiệm kỳ qua, Đảng ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan Trung ương Hội Nhà báo hoàn thành sớm việc sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Tổ chức thành công các hoạt động lớn nhân kỷ niệm 100 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam gắn với các hoạt động, chương trình về thăm nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập Báo Thanh niên tại Quảng Châu, Trung Quốc; Đoàn công tác 100 lãnh đạo cơ quan báo chí thăm quân và dân huyện đảo Trường Sa; Hội Báo toàn quốc 2025 giới thiệu thành tựu 100 năm Báo chí cách mạng Việt Nam; diễn đàn Báo chí toàn quốc với 12 phiên thảo luận; Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng 100 năm Báo chí cách mạng Việt Nam và Lễ trao giải Báo chí quốc gia lần thứ XIX. Bên cạnh đó, Cơ quan Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam chú trọng công tác đối ngoại nhân dân, góp phần củng cố và mở rộng quan hệ hữu nghị với các tổ chức Hội Nhà báo, cơ quan báo chí và đối tác quốc tế như Trung Quốc, Cu Ba, Lào, Campuchia, Thái Lan, Hàn Quốc, Belarus… Thường xuyên triển khai các hoạt động văn hóa và an sinh xã hội như Chương trình “Triệu trái tim, một tấm lòng” tổ chức tại tỉnh Yên Bái (tháng 6/2025) cùng chung tay vun đắp một tương lai tốt đẹp hơn cho những vùng đất còn nhiều khó khăn; Chương trình “Những ký ức huyền thoại” (23/7/2025) nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh-Liệt sỹ là một hoạt động ý nghĩa sâu sắc thể hiện đạo lý “uống nước, nhớ nguồn” của dân tộc...
* Đảng bộ Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam
Trong nhiệm kỳ qua, Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam đã tham gia, tổ chức thành công các hoạt động nhân kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và Năm giao lưu nhân văn Việt Nam-Trung Quốc, trong đó Gặp gỡ lưu học sinh, sinh viên Việt Nam-Trung Quốc các thời kỳ tại Cung Hữu nghị Việt-Trung với sự tham dự của Tổng Bí thư Tô Lâm và lãnh đạo Đảng, Nhà nước (20/3/2025); Gặp gỡ hữu nghị nhân dân Việt Nam-Trung Quốc và Lễ khởi động “Hành trình đỏ nghiên cứu, học tập của thanh niên” với sự tham dự, phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cùng các Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình (từ ngày 14-15/5/2025). Các hoạt động nhân dịp Kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đón gần 100 đoàn khách quốc tế dự Lễ kỷ niệm và tổ chức hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 30/4/2025). Bên cạnh đó, chủ trì thực hiện hiệu quả Chương trình Quốc gia về tăng cường hợp tác và vận động viện trợ Phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2019-2025, đề ra nhiều biện pháp mới trong vận động mang lại kết quả cao, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước với tổng giá trị viện trợ Phi chính phủ nước ngoài giải ngân cho Việt Nam đạt gần 1,1 tỷ đô la Mỹ; nhận được cam kết hỗ trợ xây mới và sửa chữa nhà dột nát tổng giá trị trên 80 tỷ719 triệu đồng; 408 tỷ đồng ủng hộ khắc phục khó khăn, phục hồi sau đại dịch Covid-19; 31 căn nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo của tỉnh Điện Biên nhân dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ; 200 tỷ đồng để khắc phục hậu quả, tái thiết cuộc sống sau bão Yagi tại các tỉnh, thành miền Bắc...
* Đảng bộ Cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng ủy Hội Nhà văn Việt Nam tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Hội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và nghề nghiệp; bám sát nhiệm vụ hàng đầu là sáng tác với mục tiêu phấn đấu cho ra đời tác phẩm có chất lượng; tích cực tham gia cuộc thi sáng tác tác phẩm văn học nghệ thuật chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” được các hội viên hưởng ứng tích cực và đoạt 3 giải thưởng. Các cơ quan chuyên môn phát huy vai trò của mình trong việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch như: Nhà xuất bản Hội Nhà văn thực hiện nghiêm túc quá trình cấp phép phát hành các ấn phẩm văn học, kịp thời ngăn chặn các ấn phẩm có tư tưởng chưa đúng với đường lối, chủ trương của Đảng; Báo Văn nghệ-cơ quan ngôn luận chính thống của Hội Nhà văn Việt Nam có vai trò tích cực tuyên truyền chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước; Tạp chí Nhà văn và Cuộc sống phát huy các bài viết phản ánh tiếng nói của các nhà văn; Bảo tàng Văn học Việt Nam là nơi truyền bá, quảng báo hình ảnh Hội Nhà văn Việt Nam, các nhà văn, nhà thơ; Website Hội Nhà văn Việt Nam liên tục cập nhập những tin tức mới nhất phản ánh tư tưởng của giới văn nghệ sĩ trong và ngoài nước. Thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu quả, hiệu lực”, từ năm 2018 đến nay đã 4 lần rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy gắn liền với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, đến đầu năm 2025 tiếp tục tinh gọn bộ máy từ 5 cơ quan tham mưu xuống còn 2 cơ quan tham mưu, từ 7 đơn vị sự nghiệp xuống còn 3 đơn vị sự nghiệp, giảm số lượng Hội đồng từ 7 hội đồng chuyên môn xuống còn 4 hội đồng chuyên môn, giải thể 2 ban Ban Văn học chuyên đề và Ban Văn học Công nhân và rà soát, hoàn thành việc giảm 20% biên chế so với năm 2024…
* Đảng bộ Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
Nhiệm kỳ 2020-2025, công tác xã hội nhân đạo được triển khai với nhiều điểm mới, có sức lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng nhận được sự quan tâm lãnh đạo, định hướng của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp có hiệu quả của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức, cá nhân, do đó các phong trào, cuộc vận động của Hội trong lĩnh vực giúp đỡ nhân đạo đã trở thành hoạt động trọng tâm, thường xuyên trong công tác Hội và phong trào Chữ thập đỏ, bước đầu ứng dụng nền tảng công nghệ số trong quản lý hoạt động. Phong trào “Tết nhân ái” toàn Hội đã vận động và trao tặng hơn 10,3 triệu suất quà với tổng trị giá đạt trên 7.118 tỷ đồng; “Tháng nhân đạo” chăm lo cho người nghèo với tổng số tiền 3.033 tỷ đồng trợ giúp 5,6 triệu lượt người nghèo và hoàn cảnh khó khăn; chương trình “An toàn cho ngư dân nghèo, khó khăn” được triển khai rộng khắp tại các tỉnh, thành, đặc biệt các tỉnh bị thiên tai để hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà an toàn, trao tặng áo phao cứu sinh đa năng, cấp cờ Tổ quốc, túi sơ cấp cứu, hỗ trợ sinh kế, truyền thông và pháp luật biển… tổng trị giá 118 tỷ 707 triệu đồng, trợ giúp 118.917 lượt người; chương trình “Dinh dưỡng cho trẻ em nghèo, khuyết tật” được thực hiện hiệu quả từ năm 2022 đến nay với 3,5 triệu trẻ em được hỗ trợ dinh dưỡng và cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập với tổng trị giá trên 448 tỷ đồng; mô hình “Bếp sạch, ngon cơm” đã xây mới, sửa chữa, nâng cấp, hỗ trợ đồ dùng cho 119 bếp ăn, tổng trị giá gần 30 tỷ đồng; triển khai nhiều chương trình, chiến dịch hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 với tổng trị giá 545 tỷ đồng. Đặc biệt, đầu năm 2024 Trung ương Hội kết nối 12 đơn vị tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho gần 10.000 người dân có hoàn cảnh khó khăn tại 15 điểm thuộc các tỉnh Điện Biên, Sơn La và Thái Nguyên trong chuỗi “Hành trình nhân đạo-Trao yêu thương” để hưởng ứng Chương trình “Tháng nhân đạo”. Bên cạnh đó, Trung ương Hội tổ chức 165 lớp tập huấn cho gần 1.000 cán bộ, hội viên, tình nguyện viên Chữ thập đỏ; tổ chức truyền thông cho trên 250.000 lượt người dân tại cộng đồng về nước sạch, vệ sinh môi trường, vận động hỗ trợ 450 công trình nước sạch, 600 công trình vệ sinh cho các trường học, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn; công tác hiến máu nhân đạo, hiến mô, bộ phận cơ thể người có nhiều đổi mới, đối tượng tham gia hiến máu tình nguyện được mở rộng và hoạt động hiến máu tình nguyện được thực hiện bài bản, đảm bảo an toàn, cơ bản đáp ứng đủ nguồn người hiến máu phục vụ cấp cứu và điều trị người bệnh. Trong những năm qua, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phát huy cai trò đầu mối phối hợp với các tổ chức thuộc phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, các cơ quan Liên hợp quốc và các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong công tác nhân đạo… Mới đây nhất, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã phát động ủng hộ Nhân dân Cuba nhân dịp “Năm Hữu nghị Việt Nam-Cuba 2025” và kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (1960-2025) với tổng số tiền hơn 400 tỷ đồng (đến ngày 5/9/2025).
* Đảng bộ Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam
Trong nhiệm kỳ qua, Trung ương Hội đã tích cực phối hợp tham mưu đề xuất: Ban Bí thư ban hành Kết luận số 58-KL/TW ngày 23/6/2023 về tổ chức và hoạt động Hội Người cao tuổi Việt Nam; Đề án “Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm” đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 379QĐ-TTg; phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hoàn thiện Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn 2045; tổ chức Diễn đàn “Kinh tế bạc ở Việt Nam-Thời cơ và thách thức” trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam, là hoạt động mang tính chính trị sâu rộng trong đời sống xã hội, kết nối với lực lượng trong nước và quốc tế, tạo động lực thúc đẩy phát triển các lĩnh vực kinh tế liên quan đến người cao tuổi, nâng cao tỷ trọng đóng góp vào kinh tế đất nước. Toàn Hội đã tập trung triển khai Đề án “Nhân rộng mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau đến năm 2025”, qua đó các tỉnh, thành trong cả nước đã nhân rộng, thành lập mới được 1.589 câu lạc bộ, nâng tổng số câu lạc bộ của cả nước 8.432 câu lạc bộ với 484.675 thành viên tham gia, trong đó có trên 70% là người cao tuổi; phối hợp với Bộ Y tế xây dựng Chương trình nhân đạo “Mắt sáng cho người cao tuổi” với mục tiêu nâng cao nhận thức về chăm sóc mắt, khám tầm soát phát hiện và can thiệp điều trị kịp thời một số bệnh lý cơ bản về mắt cho người cao tuổi…
* Đảng bộ Các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương
Là Đảng bộ gồm các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, do đó ngay sau khi thành lập (10/02/2025), công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức được Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Toàn đảng bộ đã tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, của Trung ương và Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương gắn với thực tiễn công tác của đảng bộ. Đảng ủy đã khẩn trương kiện toàn tổ chức, thành lập các chi bộ trực thuộc; xây dựng chương trình công tác toàn khóa, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng Ủy viên Ban Chấp hành phụ trách các lĩnh vực. Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2020-2025 được ban hành và thực hiện nghiêm túc, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của cấp ủy. Các chi bộ thường xuyên đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng sinh hoạt, duy trì nền nếp sinh hoạt chuyên đề hằng quý gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Công tác kiện toàn tổ chức, bổ sung cấp ủy luôn được thực hiện kịp thời, đúng quy trình, bảo đảm đủ số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm chỉ đạo chặt chẽ, thực hiện nghiêm túc các quy định, hướng dẫn của Trung ương... Đặc biệt, Ban Thường vụ Đảng ủy luôn chỉ đạo sát sao các chi bộ trực thuộc về việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo tinh thần Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 30/3/2007 của Ban Bí thư khóa X và nay là Chỉ thị 50-CT/TW ngày 23/7/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong tình hình mới, do đó việc triển khai sinh hoạt chi bộ định kỳ ở các chi bộ trong toàn Đảng bộ được thực hiện nghiêm túc, bài bản, nhất là tổ chức sinh hoạt chuyên đề gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đao đức, phong cách Hồ Chí Minh được duy trì thường xuyên, điển hình như: Chi bộ Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy sinh hoạt các chuyên đề về bài viết của Tổng Bí thư Tổ Lâm: “Học tập suốt đời”, “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”; Chi bộ Cơ quan Đoàn Thanh niên phối hợp với Tỉnh đoàn Tuyên Quang, Đoàn Thanh niên Quốc Hội, Đoàn Thanh niên Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức “Hành trình về nguồn”, sinh hoạt chính trị và dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại các địa chỉ đỏ trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang vào dịp kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh-Liệt sỹ; đã trao 7 công trình thanh niên, trao nhiều phần quà hỗ trợ các hộ gia đình chính sách, có công với cách mạng, đồng hành với học sinh nghèo vượt khó; bàn giao kinh phí vận hành một số đội hình tình nguyện, hỗ trợ chính quyền địa phương hai cấp... tổng giá trị nguồn lực của các hoạt động an sinh xã hội được triển khai là khoảng 325 triệu đồng; Chi bộ Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy phối hợp Chi bộ Cơ quan Đoàn Thanh niên tổ chức sinh hoạt Chuyên đề “Nhà 67-Biểu tượng của tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng và tấm gương, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh” và dâng hương Bác Hồ tại Khu di tích Hồ Chí Minh, Phủ Chủ tịch nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9.
* Chi bộ Đoàn Luật sư Việt Nam
Trong 5 năm qua, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã có nhiều ý kiến đóng góp vào 129 văn bản quy phạm pháp luật theo yêu cầu của các cơ quan Trung ương; tổ chức rà soát thủ tục hành chính giúp Chính phủ rà soát văn bản quy phạm pháp luật của 26 bộ, ngành trên các lĩnh vực và rà soát đối với khoảng 5.700 thủ tục hành chính các văn bản quy phạm nhằm phát hiện những thủ tục hành chính có dấu hiệu trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung. Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã cử các luật sư tham gia trợ giúp pháp lý luân phiên miễn phí cho công dân tại Trụ sở Tiếp công dân Trung ương, thể hiện việc thực hiện hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Qua đó, người dân sẽ tiếp cận với dịch vụ pháp lý miễn phí do luật sư thực hiện theo quy định của pháp luật, đồng thời để các luật sư kết nối với các cơ quan chức năng góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ công lý, giữ gìn trật tự an ninh và ổn định xã hội. Liên đoàn Luật sư ở Trung ương và các địa phương đã tích cực tham gia các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp phát động, tích cực đóng góp vào công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến với các tầng lớp Nhân dân tại cơ sở…
* Chi bộ Hội Đông y Việt Nam
Trong nhiệm kỳ qua, Hội Đông y Việt Nam tăng cường công tác chỉ đạo các tỉnh, thành Hội xây dựng, củng cố phát triển màng lưới tổ chức Hội tại địa phương, nhất là cấp Hội cơ sở xã, phường, thị trấn đến tháng 4/2025 cả nước có 69.795 hội viên. Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân được các cấp Hội quan tâm triển khai thực hiện như ở tuyến Trung ương có Phòng khám Chuyên khoa y học cổ truyền tại Văn phòng Trung ương Hội, ở Bệnh viện Y học cổ tuyền Trung ương, Viện Y học cổ truyền quân đội đã nâng cao chất lượng chuyên môn, kết hợp khám chữa bệnh cho Nhân dân với nghiên cứu khoa học, đào tạo đội ngũ cán bộ y bác sĩ có học vị bậc cao; hầu hết Hội Đông y các cấp đều có phòng Chẩn trị, Trung tâm Thừa kế ứng dụng đông y hoạt động có hiệu quả. Trong những năm qua, các cấp Hội chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, kế thừa, phát triển đông y; công tác nghiên cứu khoa học, tu thư dịch thuật; công tác phát triển dược liệu với việc ban hành Chương trình phát triển y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại đến năm 2030…
* Chi bộ Hội Người mù Việt Nam
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, Chi bộ đã kết nạp 8 đảng viên mới, đạt 267% chỉ tiêu, góp phần bổ sung lực lượng kế cận có tâm huyết, trình độ và bản lĩnh chính trị. Thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật, Hội Người mù Việt Nam đã tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, qua 5 năm thực hiện, Chỉ thị đã thực sự đi vào cuộc sống, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội đối với người mù. Hội Người mù Việt Nam đã chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế, phát huy vai trò đại diện trong cộng đồng người khiếm thị khu vực và thế giới, Hội đã tổ chức nhiều sự kiện quốc tế có ý nghĩa sâu rộng, tiêu biểu là chuỗi hoạt động ASEAN nhân ngày “Cây gậy trắng” năm 2022, Hội thảo Massage người mù khu vực châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 16 năm 2023 và Hội thảo nâng cao năng lực thông qua tạo việc làm cho người khiếm thị năm 2024. Triển khai hiệu quả Chương trình “Mái ấm tình thương” đã lan tỏa tinh thần sẻ chia, gắn kết. Chương trình “Chung tay hỗ trợ mái ấm tình thương” cho phụ nữ khó khăn về nhà ở được phát động từ năm 2020 nhằm huy động nguồn lực xã hội hóa hỗ trợ hội viên nữ có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở đã xây mới 320 nhà, sửa chữa 297 nhà, với tổng kinh phí trên 26,6 tỷ đồng; vận động cán bộ, hội viên các cấp đóng góp xây mới 10 nhà (trong đó có 2 nhà theo lời kêu gọi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thủ tướng Chính phủ) với tổng số tiền 500 triệu đồng và sửa chữa 2 nhà với kinh phí 45,5 triệu đồng. Tổ chức các cuộc thi trực tuyến giới thiệu “Cuốn sách tôi yêu” chia sẻ ý tưởng, kinh nghiệm, bài học từ cuốn sách dưới dạng chữ braille, mp3, clip nhằm thúc đẩy phát triển văn hóa đọc, nâng cao dân trí cho người mù, qua 5 lần phát động cuộc thi Đại sứ văn hóa đọc do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức, đến các em học sinh, sinh viên khiếm thị trên 500 bài dự thi được các em tham gia đã tạo sức lan tỏa trong xã hội.
* Chi bộ Hội Bảo trợ Người khuyết tật và Trẻ mồ côi Việt Nam
Trong nhiệm kỳ qua, cấp ủy Chi bộ đã lãnh đạo Hội thực hiện công tác đạt được nhiều kết quả hoạt động nổi bật, điển hình như: phong trào “Chia sẻ yêu thương” phát động và vận động tổ chức thành viên trong cùng hệ thống Hội chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau trong công tác trợ giúp đối tượng, cứu trợ đồng bào bị ảnh hưởng thiên tai, dịch bệnh; cuộc vận động “Máy tính và thiết bị thông minh hỗ trợ sinh kế, học tập cho người khuyết tật và trẻ mồ côi” đã vận động, trao tặng 462 máy tính và thiết bị thông minh, trị giá 1,9 tỷ đồng cho người khuyết tật, trẻ mồ côi có nhu cầu; cuộc vận động “Giải chạy Uprace vì cộng đồng 2022” nhận được nguồn kinh phí tài trợ hơn 3,3 tỷ đồng để trợ giúp học bổng cho 1.089 học sinh khuyết tật, mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và hỗ trợ sinh kế cho 91 người khuyết tật tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống tại 18 tỉnh, thành phố trong cả nước; “Giải chạy Uprace 2023 mang ánh sáng đến với người khuyết tật” nhận được nguồn kinh phí tài trợ gần 3,6 tỷ đồng để hỗ trợ sinh kế cho 180 người khuyết tật thuộc hộ nghèo, cận nghèo, phẫu thuật thay thủy tinh thể cho 445 người khiếm thị do đục thủy tinh thể có hoàn cảnh khó khăn, 25 suất học bổng cho trẻ mồ côi thuộc hộ nghèo, cận nghèo ở 24 tỉnh, thành phố; Trung ương Hội đã tiếp nhận, điều phối và phối hợp tổ chức trao tặng là trên 12 tỷ đồng gồm tiền mặt và hàng hóa để giúp đỡ 7.913 hộ dân bị sập, trôi nhà cửa, gia đình có người chết, gia đình có người khuyết tật, trẻ mồ côi, người nghèo... của các tỉnh bị thiệt hại do bão Yagi. Hưởng ứng cuộc vận động tham gia xóa nhà tạm, nhà dột nát do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, Hội đã có văn bản vận động các tổ chức thành viên trong cả nước cùng tham gia vận động nguồn lực, phấn đấu trong năm 2025, mỗi tổ chức thành viên hỗ trợ xây dựng được ít nhất 02 nhà tình thương tặng hộ gia đình có người khuyết tật, trẻ mồ côi với mức hỗ trợ từ 60 triệu đồng/căn trở lên.
* Chi bộ Hội Khuyến học Việt Nam
Trong nhiệm kỳ qua, Hội Khuyến học Việt Nam đã xây dựng các đề án, chương trình và được Chính phủ phê duyệt thông qua quyết định 387/QĐ-TTg ngày 25/3/2022 ban hành Chương trình “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng, đơn vị giai đoạn 2021- 2030” và Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 03/6/2022 phê duyệt Chương trình “Xây dựng mô hình công dân học tập giai đoạn 2021-2030”. Hội Khuyến học VN đã xây dựng các Bộ tiêu chí chi tiết, hướng dẫn các địa phương về nội dung, phương pháp đánh giá các mô hình học tập, hiện nay việc đánh giá, cho điểm mô hình Công dân học tập (là mô hình cốt lõi làm cơ sở cho đánh giá mô hình gia đình, dòng họ, cộng đồng và đơn vị học tập) đã được số hóa thông qua phần mềm côngdânhọctập.vn. Tính đến 31/12/2024, số công dân được đánh giá trên phần mềm đã đạt trên 10 triệu người, chiếm gần 50% số người dân được đánh giá, công nhận danh hiệu Công dân học tập trên cả nước. Ký Chương trình phối hợp với 14 ban, bộ, ngành Trung ương về đẩy mạnh khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, Hội đã thường xuyên tổ chức giải thưởng Nhân tài đất Việt và trao học bổng “Học không bao giờ cùng”, từ năm 2005 đến nay, trải qua 20 năm với 17 lần trao giải (năm 2019-2020 do dịch bệnh Covid không tổ chức trao giải), giải thưởng đã thu hút được hơn 7.200 nhà khoa học với hơn 3.400 công trình tham gia giải thưởng. Qua 17 lần tổ chức, đã có hơn 200 phát minh, sáng chế, giải pháp khoa học, công nghệ được tôn vinh. Trong đó, hơn 50 sản phẩm đã vươn ra thị trường khu vực và quốc tế. Học bổng “Học không bao giờ cùng” là học bổng thường niên của Hội Khuyến học Việt Nam, Quỹ Khuyến học Việt Nam dành cho học sinh có thành tích xuất sắc trong học tập và người lớn tự học, học tập suốt đời theo tinh thần tự học, học không bao giờ cùng, học mãi, tiến bộ mãi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ năm 2020 đến nay, Học bổng “Học không bao giờ cùng” đã qua 05 mùa trao giải với 1.323 xuất học bổng, tổng trị giá đạt 3 tỷ 819 triệu đồng…
* Chi bộ Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam
Là tổ chức Hội đặc thù, cấp ủy Chi bộ Hội tập trung lãnh đạo việc tập hợp, đoàn kết hội viên thực hiện tốt sứ mệnh tham mưu cho Đảng, Nhà nước đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân chất độc da cam và vận động nguồn lực trong nước, quốc tế để chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam. Trong thời gian qua, Trung ương Hội đã lãnh đạo tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, thi đua, vận động nguồn lực và đấu tranh công lý cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin; tổ chức Triển lãm “Da cam-lương tri và công lý” tại tỉnh Bắc Giang 2025 và Chương trình giao lưu nghệ thuật “Theo ánh bình minh”. Tính cuối tháng 6 năm 2025, tổ chức Hội trong toàn quốc đã vận động được hơn 251 tỷ đồng để chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân, trong đó quỹ nạn nhân chất độc da cam Trung ương Hội vận động được hơn 2,1 tỷ đồng. Bên cạnh đó, từ đầu năm 2025 đến nay đã tổ chức các đoàn công tác đi vận động ủng hộ vụ kiện của bà Trần Tố Nga (Việt kiều tại Pháp), vận động nguồn lực giúp đỡ nạn nhân tại 5 nước châu Âu đạt kết quả tốt; dự Hội thảo chống bom A và bom H tại Nhật Bản; Trung ương Hội đã tiếp và làm việc với hơn 50 đoàn khách từ các quốc gia, các tổ chức quốc tế đến thăm, làm việc và ủng hộ nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.
* Chi bộ Hội Cứu trợ Trẻ em tàn tật Việt Nam
Trong những năm qua, Hội tập hợp ngày càng đông người tâm huyết, cống hiến, kinh nghiệm giúp trẻ khuyết tật vươn lên, tạo ra sân chơi lành mạnh cho trẻ em khuyết tật như: Cuộc thi “Người khuyết tật, trẻ em khuyết tật vẽ tranh, viết chữ đẹp”; Cuộc thi “Vì nụ cười trẻ em” do Tạp Chí sức khỏe trẻ em tổ chức thu hút hàng ngàn lượt thi, cổ vũ động viên, giúp đỡ trẻ em khuyết tật. Qua 10 năm liên tiếp, Hội tổ chức Chương trình “Thắp sáng niềm tin cho em”, mỗi năm Hội đã vận động được trên 20 tỷ đồng tài trợ. Hội đã kết nối khám sàng lọc phát hiện sớm phẫu thuật, phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật với lượt trẻ khuyết tật được khám, cấp phát thuốc miễn phí 69.845 trẻ, số trẻ khuyết tật được điều trị bằng nội khoa (châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, vật lý trị liệu) được 5.850 trẻ, số trẻ được phẫu thuật chỉnh hình cho 6.600 trẻ, số trẻ khuyết tật được tập luyện phục hồi chức năng kể cả phục hồi chức năng sau phẫu thuật được 7.127 trẻ. Đối với công tác dạy chữ cho trẻ em khuyết tật, Hội đã mở được 1.681 lớp dạy chữ tại các Trung tâm và Nhà cứu trợ của Hội với số lượng học sinh là 11.481 em; ngoài ra, Hội còn đưa 1.622 trẻ em khuyết tật vào học hoà nhập tại các trường tiểu học; tổ chức được 159 lớp dạy nghề, hàng trăm trẻ khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ miễn, giảm học phí, hàng chục ngàn em khuyết tật được học hòa nhập. Từ năm 2020 đến ngày 30/6/2025, Hội đã vận động trong và ngoài nước tài trợ với số tiền tổng 76 tỷ 935 triệu đồng…
* Chi bộ Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam
Trong những năm qua, toàn Hội luôn xác định rõ vai trò hạt nhân lãnh đạo, luôn giữ vững nguyên tắc sinh hoạt đảng, đoàn kết, gương mẫu, góp phần xây dựng tổ chức Hội trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt sứ mệnh “Sống trọn nghĩa nước non-thắm tình đồng đội”, “Lúc trẻ xung phong-Về già gương mẫu”. Hội đã phối hợp với các cơ quan chức năng đề xuất chế độ cho hàng vạn cựu thanh niên xung phong, trong đó có nhiều trường hợp được công nhận liệt sĩ, thương binh, được cấp bằng Tổ quốc ghi công, trợ cấp thường xuyên và mai táng phí. Hệ thống Hội đã phát triển rộng khắp với hơn 400 nghìn hội viên toàn quốc, trở thành lực lượng xã hội đặc thù, tích cực đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hội phát động và duy trì hiệu quả phong trào thi đua “Làm theo lời Bác” gắn kết các hoạt động tình nghĩa, xây dựng Quỹ nghĩa tình đồng đội với tổng số trăm tỷ đồng để thăm hỏi, xây nhà, hỗ trợ hội viên khó khăn; tích cực phối hợp trong công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ với nhiều mô hình phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã được triển khai như hành trình về nguồn, diễn đàn truyền thống, xuất bản sách ký ức thanh niên xung phong, dựng phim tài liệu, trao học bổng cho học sinh vùng sâu vùng xa; tích cực xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh với nhiều hội viên thanh niên xung phong đã phát triển kinh tế gia đình, vận động hiến đất, đóng góp ngày công, gương mẫu đi đầu trong các phong trào tại địa phương.
---------------------
[1] Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội; Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
[2] Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức Chương trình Thủ tướng Chính phủ đối thoại với công nhân; Diễn đàn Người lao động do Chủ tịch Quốc hội chủ trì; Chương trình đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri chuyên đề với công nhân, người lao động để lắng nghe, giải quyết kịp thời nhiều vấn đề quan tâm, bức xúc của đoàn viên, người lao động, đồng thời là kênh quan trọng góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật.
[3] Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 03/10/2017 của Ban Bí thư ban hành Hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Quyết định số 124-QĐ/TW, ngày 2/2/2018 của Ban Bí thư về giám sát Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên.
[4] Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/1/2012 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 7/10/2021 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
[5] Ban Thường vụ Đảng ủy đã chỉ đạo các cấp ủy triển khai thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 16/1/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đã được các chi bộ bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức theo đặc thù công tác gắn với Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới... Qua đó đã phát huy vai trò nêu gương, tự soi, tự sửa của cán bộ, đảng viên.
[6] Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc , các đoàn thể Trung ương đã thực hiện quy trình kỷ luật đối với 1 trường hợp là Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
[7] 1. Các cuộc vận động lớn: (1) Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; (2) Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau; (3) Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam; (4) Ngày vì người nghèo. 2. Các phong trào thi đua yêu nước tiêu biểu: (1) Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phát động: Thanh niên tình nguyện, Tuổi trẻ sáng tạo, Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc; (2) Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động: Lao động giỏi, lao động sáng tạo; Xanh - sạch - đẹp, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động; (3) Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động: Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới, Cuộc vận động xây dựng gia đình 5 không 3 sạch; (4) Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát động: Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững; cán bộ, hội viên nông dân tích cực tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp; (5) Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam phát động: Cựu chiến binh gương mẫu; Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi; Cựu chiến binh tham gia giữ gìn trật tự, an toàn giao thông và xây dựng văn hóa giao thông…
[8] Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và Kết luận số 21-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 16/01/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Thực hiện nghiêm Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao; Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 23/7/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới...

