Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I nhiệm kỳ 2025-2030

Tư liệu

Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I nhiệm kỳ 2025-2030

Báo Nhân Dân trân trọng giới thiệu Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I nhiệm kỳ 2025-2030.

CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG

THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ BỘ TƯ PHÁP LẦN THỨ I, NHIỆM KỲ 2025-2030

Căn cứ Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng;

Căn cứ Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;

Căn cứ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030;

Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tư pháp ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 như sau:

chuong-trinhhanh-dong-bo-tu-phap-1.jpg

Tổ chức thực hiện nghiêm, đồng bộ, hiệu quả các nội dung Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện; phát huy vai trò kiến tạo thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tư pháp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

chuong-trinhhanh-dong-bo-tu-phap-2.jpg

1. Lãnh đạo thực hiện toàn diện nhiệm vụ chính trị của Bộ Tư pháp

Tiếp tục khẳng định và phát huy vai trò nòng cốt, kiến tạo trong công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật và cải cách tư pháp, Đảng bộ Bộ Tư pháp tập trung lãnh đạo thực hiện các nội dung sau:

Tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, toàn diện, hiệu quả, sáng tạo các Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ 1 của Đảng bộ Chính phủ; các nghị quyết Hội nghị Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 59-NQ/TW. Đồng thời, cụ thể hóa các nội dung Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 vào chương trình, kế hoạch công tác hằng năm và toàn khóa của từng cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc.

- Triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm thực hiện của Bộ, ngành Tư pháp tại Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW.

Tăng cường công tác phối hợp liên ngành và giữa các cấp ủy Đảng với chính quyền, cơ quan chuyên môn, bảo đảm việc chỉ đạo, điều hành các nhiệm vụ chính trị gắn chặt với việc nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thi hành pháp luật.

- Lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo đánh giá năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, chất lượng cán bộ, đảng viên, bảo đảm sự thống nhất, hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo triển khai toàn diện nhiệm vụ chính trị của Bộ, ngành Tư pháp trong bối cảnh mới.

dai-hoi-bo-tu-phap.jpg
Hình ảnh tại Đại hội đại biểu Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

2. Tạo đột phá trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

Xác định rõ xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ trung tâm, lâu dài, thường xuyên, có tính nền tảng, Đảng bộ Bộ Tư pháp tập trung chỉ đạo, tạo đột phá trong lĩnh vực này, bảo đảm vai trò kiến tạo phát triển và hội nhập quốc tế của pháp luật, với những nội dung trọng tâm sau:

- Đổi mới mạnh mẽ tư duy trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chuyển mạnh từ tư duy “thiên về quản lý” sang “kiến tạo để phát triển” theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị và Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật; nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; coi thể chế pháp luật là đột phá, trọng tâm. Tập trung tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, ổn định, khả thi, minh bạch, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế. Triển khai hiệu quả quy trình 2 giai đoạn: xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản pháp luật; áp dụng mô hình tham vấn công khai, phản biện xã hội từ sớm, từ xa; bảo đảm sự tham gia thực chất của các chuyên gia, nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong quá trình lập pháp. Đổi mới căn bản phương thức xây dựng pháp luật, tổ chức lại quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật theo hướng tập trung, chuyên nghiệp, phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan chủ trì nội dung chính sách và cơ quan có chức năng chuyên trách về kỹ thuật lập pháp trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Tập trung xử lý dứt điểm các xung đột, chồng chéo, mâu thuẫn, "điểm nghẽn" do quy định pháp luật, nhất là trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, tài chính, đất đai, môi trường, chuyển đổi số, an sinh xã hội và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tham mưu hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật theo hướng khoa học, đồng bộ, ổn định, thống nhất, dễ tiếp cận, khả thi, bảo đảm liên thông giữa các ngành, lĩnh vực; xây dựng Đề án hoàn thiện cấu trúc pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, gắn với xây dựng Định hướng lập pháp Quốc hội khóa XVI, giai đoạn 2026-2031; đồng thời xử lý căn cơ tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột pháp luật. Tăng cường kỷ cương, chống tham nhũng, lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật.

Phấn đấu đến năm 2030: 100% dự án luật do Bộ Tư pháp chủ trì có báo cáo đánh giá tác động chính sách độc lập; hết năm 2025, chủ trì, phối hợp tham mưu cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ các “điểm nghẽn” do quy định pháp luật; đến năm 2027, phối hợp với các bộ, ngành tham mưu hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền ba cấp; đến năm 2028, phối hợp với các bộ, ngành tham mưu hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, đưa môi trường đầu tư Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi với cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, hiệu quả, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho phát triển kinh tế-xã hội, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao.

3. Nâng cao chất lượng tổ chức thi hành pháp luật

cong-phap-luat-quoc-gia.jpg
Ra mắt Cổng Pháp luật quốc gia phiên bản chính thức, ngày 7/11/2025. (Ảnh nhandan.vn)

- Tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, phát huy cao độ tinh thần phục vụ Nhân dân, tư duy kiến tạo phát triển, hành động vì lợi ích chung của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Tiếp tục vận hành hiệu quả Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật; tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án “Ứng dụng công nghệ số trong việc tiếp nhận, xử lý, phản ánh kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật” được phê duyệt tại Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 5/2/2025 của Thủ tướng Chính phủ; nghiên cứu xây dựng phần mềm phục vụ, hỗ trợ công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật; thường xuyên đánh giá hiệu quả của pháp luật sau ban hành như kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm công tác tổ chức thi hành pháp luật; tăng cường các hoạt động điều tra, khảo sát (về những vấn đề như phân quyền, phân cấp,...) nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong tổ chức thi hành pháp luật; nâng cao năng lực tổ chức, thực thi pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức. Xây dựng chương trình, tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh hoạt động bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về kiến thức, kỹ năng về tổ chức thi hành pháp luật.

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và đạo đức công vụ. Ưu tiên bảo đảm hiệu quả thi hành pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trong các lĩnh vực dân sinh quan trọng khác.

- Tăng cường tham mưu thực hiện công tác giải thích và hướng dẫn áp dụng pháp luật để bảo đảm sức sống của văn bản quy phạm pháp luật.

Tăng cường giáo dục pháp luật và truyền thông pháp lý, gắn kết pháp luật với đời sống, nâng cao năng lực pháp lý toàn dân.

- Tổ chức vận hành hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia, bảo đảm cung cấp, hỗ trợ thông tin pháp luật nhanh, kịp thời, hiệu quả đến người dân và doanh nghiệp.

4. Đổi mới toàn diện, hiện đại hóa công tác thi hành án dân sự, hành chính

- Tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành án; rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí tổ chức, bảo đảm công khai, minh bạch, kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp.

Tăng cường chỉ đạo, điều hành quyết liệt đối với các vụ việc trọng điểm, phức tạp, nhất là thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế theo đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan trong rà soát, tháo gỡ vướng mắc khi thi hành các bản án có hiệu lực pháp luật.

- Chủ động khắc phục tình trạng tồn đọng án hành chính, đặc biệt là các bản án liên quan đến trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp.

Tham mưu hoàn thiện cơ chế kiểm soát trách nhiệm thi hành, bảo đảm thượng tôn và thực thi nghiêm minh pháp luật; tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và mô hình tổ chức thi hành án theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả; đổi mới quy trình, thủ tục thi hành án gắn với ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, nâng cao trách nhiệm giải trình và tăng cường giám sát xã hội.

- Từng bước xã hội hóa có kiểm soát một số hoạt động hỗ trợ thi hành án như thẩm định giá, bán đấu giá, xác minh điều kiện thi hành... trên cơ sở bảo đảm tính pháp lý, chất lượng dịch vụ và thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời giảm áp lực cho cơ quan thi hành án dân sự.

- Đẩy mạnh chuyển đổi số trong thi hành án dân sự, hành chính; vận hành hiệu quả cơ sở dữ liệu điện tử, kết nối liên thông với các cơ quan đăng ký tài sản, ngân hàng, công chứng... nhằm hỗ trợ xác minh, kê biên, xử lý tài sản kịp thời, minh bạch và đúng pháp luật.

5. Thúc đẩy mạnh mẽ cải cách hành chính tư pháp và phát triển đồng bộ hệ thống bổ trợ tư pháp

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, đăng ký biện pháp bảo đảm, bồi thường nhà nước, tạo động lực hỗ trợ cải cách tư pháp. Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ pháp lý, hỗ trợ pháp lý, trợ giúp pháp lý, đăng ký biện pháp bảo đảm để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật, quản trị rủi ro pháp lý.

- Cải cách cơ bản thủ tục hành chính trong các lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch công chứng, chứng thực, thi hành án dân sự; rút ngắn ít nhất 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính tư pháp so với hiện hành. Nghiên cứu, tổng kết đánh giá, mở rộng mô hình “Trung tâm pháp lý cộng đồng” tại các địa phương trọng điểm. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm thông qua việc vận hành có hiệu quả hệ thống đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản.

6. Tham gia tích cực vào việc xây dựng thể chế và pháp luật quốc tế

- Hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực của các cơ quan, tổ chức Việt Nam để bảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý quốc tế, định hình trật tự pháp lý quốc tế; tham gia tích cực vào việc xây dựng thể chế và pháp luật quốc tế; tận dụng hiệu quả, linh hoạt các lợi thế từ cam kết của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

- Xử lý tốt các vấn đề pháp lý quốc tế phát sinh, nhất là tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế; Nâng cao sự hiện diện của các chuyên gia pháp lý Việt Nam trong các tổ chức pháp lý quốc tế và cơ quan tài phán quốc tế.

- Đề xuất cơ chế bảo đảm thu hút, duy trì, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, có kinh nghiệm thực tiễn về pháp luật quốc tế và giải quyết tranh chấp quốc tế.

7. Đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế về pháp luật và cải cách tư pháp

- Đổi mới công tác, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác quốc tế về pháp luật và cải cách tư pháp, trọng tâm là hợp tác về xây dựng và thực thi pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

- Mở rộng hợp tác quốc tế về pháp luật và cải cách tư pháp; nghiên cứu xây dựng định hướng tăng cường hợp tác quốc tế của Bộ Tư pháp giai đoạn 2026-2031 phát triển mạng lưới chuyên gia pháp lý nước ngoài, bao gồm cả người Việt Nam ở nước ngoài để hỗ trợ nghiên cứu, tư vấn các vấn đề mới trong phát triển kinh tế-xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mở rộng hợp tác với ít nhất 30 quốc gia và tổ chức quốc tế trong lĩnh vực pháp luật, đào tạo tư pháp; tổ chức thành công các diễn đàn pháp lý quốc tế cấp khu vực và toàn cầu trong nhiệm kỳ. Tiếp tục quản lý hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật, cải cách tư pháp, đảm bảo tuân thủ đúng các nguyên tắc, chỉ đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

8. Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo

Xác định đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng, phát triển dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo là một trong những giải pháp đột phá chiến lược để hiện đại hóa Bộ, ngành Tư pháp, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước bằng khoa học, công nghệ và dựa trên dữ liệu;

- Tập trung lãnh đạo thực hiện các nội dung trọng tâm: Thực hiện chuyển đổi số toàn diện, nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ trong ngành tư pháp. Tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) trong quản lý nhà nước về pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện và vận hành 6 cơ sở dữ liệu số cốt lõi (Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự, Cơ sở dữ liệu về công chứng, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm, Cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý); 100% dịch vụ công trong ngành Tư pháp đạt mức độ toàn trình, có thể thực hiện trên thiết bị di động; Xây dựng Kiến trúc số, Chiến lược dữ liệu, Chiến lược chuyển đổi số Bộ Tư pháp, liên thông với các cơ quan trung ương và địa phương; Đẩy mạnh tích hợp, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành. 100% đơn vị thuộc Bộ Tư pháp tham gia, áp dụng hệ thống văn bản điều hành điện tử trong giải quyết văn bản hằng ngày, 90% cán bộ tư pháp sử dụng thành thạo các nền tảng số chuyên ngành; giảm 80% thời gian xử lý thủ tục hành chính nhờ ứng dụng công nghệ. Đẩy mạnh việc tuyên truyền, sử dụng các nền tảng số của Bộ Tư pháp, hướng tới ít nhất 3 triệu người dùng thường xuyên các nền tảng số của Bộ Tư pháp.

Tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) trong quản lý nhà nước về pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện và vận hành 6 cơ sở dữ liệu số cốt lõi (Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự, Cơ sở dữ liệu về công chứng, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm, Cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý);

9. Phát triển nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao

phien-toa-gia-dinh-chong-khai-thac-iuu.jpg
Hình ảnh phiên tòa giả định chống khai thác IUU. (Ảnh: HOÀNG THƯỜNG)

Nguồn nhân lực pháp luật là yếu tố then chốt quyết định chất lượng thể chế, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật và cải cách tư pháp. Trong bối cảnh mới, Đảng bộ Bộ Tư pháp xác định phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật có phẩm chất, năng lực, trình độ cao là một trong ba đột phá chiến lược, với các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho ít nhất 5.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức trong toàn Ngành trong nhiệm kỳ, tập trung vào các lĩnh vực: Kỹ năng hoạch định chính sách, xây dựng và phản biện pháp luật; thi hành pháp luật, công tác tư pháp và chuyển đổi số trong lĩnh vực pháp lý; kỹ năng đàm phán, làm việc trong môi trường quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia trong hội nhập; kỹ năng trọng tài, hòa giải.

- Phấn đấu 100% cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật được đào tạo, bồi dưỡng bài bản về kỹ năng phân tích chính sách, đánh giá tác động và lập pháp hiện đại, từng bước chuẩn hóa đội ngũ làm chính sách theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu, có tư duy chiến lược.

- Nghiên cứu xây dựng cơ chế thu hút, tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt đối với cán bộ, chuyên gia pháp luật chất lượng cao, có thể áp dụng hình thức hợp đồng, khoán việc để phát huy nguồn lực ngoài công lập trong xây dựng và thực thi chính sách pháp luật. Xây dựng đội ngũ nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật có năng lực tư duy chính sách, chuyên môn vững vàng, đạo đức nghề nghiệp tốt.

- Phối hợp với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là các tổ chức quốc tế uy tín, để nâng cao chất lượng đào tạo luật và phát triển Trường Đại học Luật Hà Nội thành trường trọng điểm về đào tạo cán bộ pháp luật; Học viện Tư pháp thành Trung tâm lớn về đào tạo các chức danh tư pháp, Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý trở thành cơ sở nghiên cứu trọng điểm quốc gia, trung tâm nghiên cứu chính sách, pháp luật thuộc nhóm dẫn đầu các nước ASEAN. Xây dựng, phát triển mạng lưới chuyên gia pháp lý trong, ngoài nước.

Từ nay đến năm 2030, xây dựng, duy trì đội ngũ nòng cốt và phát triển nguồn nhân lực tham mưu xây dựng pháp luật; tăng cường trách nhiệm, tính chuyên nghiệp và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham mưu xây dựng pháp luật; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng pháp luật. Phấn đấu đến năm 2030: Có 40-50% cán bộ lãnh đạo quản lý của Bộ Tư pháp đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế; 100% cán bộ quản lý, lãnh đạo cấp vụ trở lên trong ngành Tư pháp được cập nhật, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng pháp luật hội nhập và đổi mới sáng tạo; hình thành mạng lưới chuyên gia pháp lý, cố vấn chính sách hỗ trợ Đảng ủy, Lãnh đạo Bộ trong xây dựng chiến lược phát triển pháp luật quốc gia.

10. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động báo chí, xuất bản, tuyên truyền, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Bộ, ngành

Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội gắn với nhiệm vụ chính trị của Bộ, ngành; bảo đảm hoạt động báo chí, xuất bản bám sát định hướng chỉ đạo của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tăng cường công tác định hướng, quản lý và tổ chức hoạt động báo chí, xuất bản, tuyên truyền pháp luật, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của pháp luật và cải cách tư pháp. Bảo đảm các hoạt động báo chí, xuất bản của Bộ, ngành tuân thủ nghiêm túc các định hướng chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời linh hoạt ứng dụng công nghệ số hiện đại để đa dạng hóa hình thức truyền thông, phù hợp với xu thế phát triển báo chí hiện đại và nhu cầu tiếp nhận thông tin đa dạng của xã hội.

Nâng cao chất lượng nội dung, hình thức thể hiện trong hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, đa dạng hóa phương thức truyền thông, phù hợp với xu hướng báo chí hiện đại. Đổi mới phương thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật theo hướng sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp cận và hiệu quả, phát huy tối đa sức mạnh của truyền thông đa phương tiện, mạng xã hội, nền tảng số. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ làm công tác truyền thông để nâng cao chất lượng thông tin, bài viết, sản phẩm báo chí, xuất bản đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập.

Phát huy vai trò của Báo Pháp luật Việt Nam trong tuyên truyền các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh chuyển đổi số, tích hợp đa nền tảng thông tin truyền thông. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động báo chí, xây dựng và vận hành hiệu quả các nền tảng đa phương tiện tích hợp (báo điện tử, mạng xã hội, ứng dụng di động...) nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận và tương tác với độc giả. Phát triển Báo Pháp luật Việt Nam thành kênh thông tin chính thống, tin cậy, có vai trò dẫn dắt dư luận xã hội về pháp luật và cải cách tư pháp.

Tiếp tục củng cố và phát triển Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trở thành diễn đàn khoa học có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu pháp luật và cải cách tư pháp; tăng cường xuất bản các ấn phẩm chuyên đề; tổ chức các hội thảo khoa học, tạo diễn đàn trao đổi học thuật sâu rộng. Đẩy mạnh liên kết, hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia trong và ngoài nước để nâng cao chất lượng các bài nghiên cứu, chuyên đề đăng tải trên Tạp chí. Chủ trì tổ chức các hội thảo khoa học, tọa đàm chuyên sâu về các vấn đề pháp luật, cải cách tư pháp, góp phần tạo dựng môi trường học thuật nghiêm túc, chuyên nghiệp.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà Xuất bản Tư pháp; tiếp tục củng cố, phát huy và giữ vững vị thế là nhà xuất bản quốc gia có uy tín trong lĩnh vực luật học. Đẩy mạnh công tác xuất bản và phát hành các xuất bản phẩm nhằm phục vụ thiết thực, hiệu quả cho việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đáp ứng yêu cầu của hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật, hoạt động tư pháp, nhu cầu nghiên cứu, học tập, đào tạo, bồi dưỡng trong Bộ, ngành Tư pháp và toàn xã hội. Chủ động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ để cải tiến quy trình biên tập, xuất bản và phát hành, qua đó nâng cao chất lượng xuất bản phẩm. Song song với việc duy trì và phát triển hệ thống kênh phát hành truyền thống, cần chú trọng mở rộng kênh phát hành xuất bản phẩm điện tử; đồng thời tăng cường truyền thông, quảng bá sách pháp luật trên các nền tảng mạng xã hội, tạo điều kiện để thông tin pháp luật được lan tỏa nhanh chóng, chính xác, kịp thời đến các địa phương, trường học, cơ quan, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật trong toàn xã hội.

11. Tăng cường hiệu quả công tác quản lý ngân sách, tài sản công; đầu tư công; kế hoạch và thống kê ngành Tư pháp

Thực hiện nghiêm túc quy định pháp luật và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công; bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch, đúng mục đích; không để thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong quyết toán và sử dụng tài chính công, tài sản công, các lĩnh vực được giao quản lý.

Chủ động rà soát, xây dựng, triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm; tập trung ưu tiên đầu tư cho các công trình, dự án trọng điểm, cấp thiết của Ngành, phù hợp với định hướng phát triển và khả năng cân đối ngân sách.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực công tác, nhất là công tác kế hoạch và thống kê; nâng cao chất lượng, độ tin cậy của dữ liệu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ, ngành.

12. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra; tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

bo-tu-phap.jpg

- Thực hiện công tác kiểm tra theo hướng chủ động, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm, tiềm ẩn nguy cơ vi phạm như: bổ trợ tư pháp, hộ tịch, chứng thực, quản lý nhà nước về pháp luật.

Tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong đối thoại, xử lý dứt điểm vụ việc phức tạp, không để tồn đọng, kéo dài, gây bức xúc xã hội.

Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gắn với thực hiện Kế hoạch phòng, chống tham nhũng của Bộ và các đơn vị trực thuộc; tăng cường kiểm tra việc kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập; chú trọng phòng ngừa từ sớm, từ xa.

chuong-trinhhanh-dong-bo-tu-phap-3.jpg

1. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng

Xây dựng Đảng bộ Bộ Tư pháp thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ là nhiệm vụ then chốt, xuyên suốt, tạo nền tảng để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Bộ, ngành Tư pháp. Trọng tâm thực hiện:

- Kiện toàn tổ chức bộ máy Đảng bộ theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với mô hình tổ chức của Bộ, ngành trong điều kiện chuyển đổi số và cải cách hành chính nhà nước: Rà soát, điều chỉnh, sắp xếp tổ chức Đảng các cấp bảo đảm đồng bộ với cơ cấu tổ chức hành chính, tránh chồng chéo, hình thức; phân công rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm từng tổ chức đảng trực thuộc, gắn với yêu cầu lãnh đạo toàn diện công tác chuyên môn.

- Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và xác định đây là nền tảng rèn luyện tư tưởng, đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật cho cán bộ, đảng viên: Thực hiện nghiêm túc nề nếp sinh hoạt định kỳ và sinh hoạt chuyên đề, bảo đảm đúng quy định, đúng trọng tâm, thiết thực; đổi mới nội dung, phương pháp sinh hoạt gắn với nhiệm vụ chính trị của đơn vị và thực tiễn ngành Tư pháp; tăng cường sinh hoạt tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò nêu gương của bí thư chi bộ, cấp ủy viên.

- Rà soát, sàng lọc đội ngũ đảng viên theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII, Chỉ thị 05/CT-TW, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, không còn đủ tư cách: Thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát nội bộ, phát hiện sớm các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Gắn trách nhiệm sàng lọc đảng viên với đánh giá chất lượng chi bộ, tổ chức đảng và trách nhiệm cá nhân cấp ủy viên.

Tăng cường bồi dưỡng lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng và kỹ năng công tác Đảng định kỳ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên: Phấn đấu 100% đảng viên được học tập đầy đủ, nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đảng, cập nhật kiến thức mới, kỹ năng lãnh đạo, quản trị tổ chức đảng trong môi trường số; chú trọng phát hiện, quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ nguồn, cán bộ trẻ, cán bộ nữ có triển vọng để bổ sung lực lượng kế cận.

Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng, bảo đảm kỷ luật là sức mạnh của tổ chức: Xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ, hằng năm có trọng tâm, trọng điểm, không chồng chéo; tăng cường tự kiểm tra nội bộ và kiểm tra đột xuất; xử lý nghiêm, kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước.

- Gắn kết chặt chẽ công tác xây dựng Đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị chuyên môn, xây dựng Đảng bộ Bộ trở thành hạt nhân chính trị vững mạnh, đủ sức lãnh đạo toàn diện các nhiệm vụ của ngành trong thời kỳ mới.

cong-phap-luat-quoc-gia-1.jpg

2. Tăng cường kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng

Kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật là một chức năng lãnh đạo quan trọng, góp phần giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng, phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái, tiêu cực, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ Bộ Tư pháp. Trong nhiệm kỳ tới, Đảng bộ xác định thực hiện đồng bộ, chủ động các nhiệm vụ sau:

- Tổ chức kiểm tra, giám sát định kỳ 100% tổ chức Đảng trực thuộc theo kế hoạch hằng năm của Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ, bảo đảm: Có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các nội dung như: công tác xây dựng Đảng, chấp hành nghị quyết, nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, quản lý cán bộ, tài chính, tài sản công; phân công rõ trách nhiệm, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ kiểm tra từ Đảng ủy Bộ đến các cấp ủy cơ sở.

Kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật là một chức năng lãnh đạo quan trọng, góp phần giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng, phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái, tiêu cực, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ Bộ Tư pháp.

- Tăng cường kiểm tra chuyên đề, kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm, đặc biệt đối với các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực như xây dựng pháp luật, thi hành án, quản lý đầu tư công, công tác tổ chức cán bộ.

- Kịp thời xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, quy định về đạo đức, lối sống và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp: Gắn kết quả kiểm tra, giám sát với đánh giá chất lượng tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên và công tác thi đua-khen thưởng, quy hoạch-bổ nhiệm; công khai, minh bạch kết luận kiểm tra, kết quả xử lý vi phạm theo đúng quy định, tạo sức răn đe và phòng ngừa.

- Nâng cao chất lượng, hiệu lực hoạt động của Ủy ban Kiểm tra các cấp, bảo đảm tính độc lập, khách quan trong thực hiện nhiệm vụ: Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng cho thành viên ủy ban kiểm tra và cán bộ chuyên trách; bố trí đủ nhân lực, phương tiện, điều kiện làm việc đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác kiểm tra, giám sát.

- Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy trình kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, nhất là nguyên tắc công khai, dân chủ, khách quan, đúng thẩm quyền, đúng quy định.

- Tăng cường tự kiểm tra, giám sát nội bộ cấp ủy, chi bộ và cá nhân đảng viên, xác định là giải pháp căn cơ phòng ngừa vi phạm, suy thoái từ sớm, từ xa.

- Xây dựng văn hóa chấp hành kỷ luật Đảng, đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong việc tự soi, tự sửa, tự chịu trách nhiệm.

3. Đẩy mạnh công tác tuyên giáo và dân vận, phát huy vai trò các tổ chức đoàn thể

Công tác tuyên giáo và dân vận là hai trụ cột quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, có vai trò định hướng tư tưởng, giáo dục chính trị, tạo sự thống nhất nhận thức và đồng thuận xã hội, góp phần nâng cao hiệu lực lãnh đạo và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong Bộ, ngành Tư pháp:

- Về công tác tuyên giáo: Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Triển khai nghiêm túc, bài bản việc học tập, quán triệt, tuyên truyền, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIV, các Nghị quyết của Trung ương, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Chủ động nắm bắt dư luận, kịp thời định hướng thông tin, tư tưởng, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đẩy mạnh tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến, nhất là trong cải cách hành chính, cải cách tư pháp, chuyển đổi số và thi hành pháp luật, tạo động lực lan tỏa trong toàn Ngành.

Về công tác dân vận: Tăng cường công tác dân vận trong cơ quan hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân; thực hiện hiệu quả phương châm “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân". Đổi mới nội dung, phương thức dân vận theo hướng sát thực tiễn, gắn với chức năng chuyên môn, như: cải cách thủ tục hành chính tư pháp, phổ biến giáo dục pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho người yếu thế. Phát động và nhân rộng các phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng các mô hình điển hình trong từng lĩnh vực, từng đơn vị thuộc Bộ; chú trọng khen thưởng, nhân rộng các sáng kiến hiệu quả, lan tỏa tinh thần vì dân phục vụ.

Tăng cường công tác dân vận trong cơ quan hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân; thực hiện hiệu quả phương châm “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân".

- Phát huy vai trò các đoàn thể: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Chi hội Hội Luật gia cơ quan Bộ tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thiết thực, hiệu quả, tập trung hướng về cơ sở, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đoàn viên, hội viên; đồng thời tích cực tham gia xây dựng pháp luật, giám sát, phản biện xã hội. Khơi dậy tinh thần xung kích, sáng tạo của cán bộ, công chức trẻ, đặc biệt trong các lĩnh vực chuyển đổi số, nghiên cứu pháp lý, cải cách hành chính, hội nhập quốc tế; phát triển các câu lạc bộ pháp lý, diễn đàn trí tuệ trẻ trong Bộ. Phấn đấu hằng năm, các tổ chức đoàn thể đạt danh hiệu hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, trong đó có đơn vị hoàn thành xuất sắc, đóng vai trò là cầu nối vững chắc giữa Đảng, chính quyền và cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

Gắn kết công tác tuyên giáo-dân vận với công tác xây dựng Đảng và nhiệm vụ chính trị của Bộ, ngành; tăng cường phối hợp giữa Ban Tuyên giáo và Dân vận với các cấp ủy, tổ chức đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc Bộ trong triển khai các nội dung giáo dục chính trị, dân vận, thi đua khen thưởng, kỷ luật, đánh giá cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo, dân vận vững vàng chính trị, tinh thông nghiệp vụ, tâm huyết với nhiệm vụ.

chuong-trinhhanh-dong-bo-tu-phap-4.jpg

1. Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tư pháp

Lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện Chương trình hành động, bảo đảm các nhiệm vụ, giải pháp được triển khai đồng bộ, hiệu quả.

- Định kỳ tổ chức đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết, Chương trình hành động, giải quyết kiến nghị, khó khăn, vướng mắc và kịp thời điều chỉnh kế hoạch thực hiện khi cần thiết.

2. Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ

- Chỉ đạo tổ chức các hội nghị phổ biến, tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 trong toàn Đảng bộ.

Định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết, Chương trình hành động; biểu dương tập thể, cá nhân tiêu biểu theo thẩm quyền; xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

3. Các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc và tổ chức chính trị-xã hội thuộc Bộ

Chủ động triển khai thực hiện Nghị quyết, Chương trình hành động trong phạm vi lĩnh vực, nhiệm vụ được giao.

Trên cơ sở những nhiệm vụ và nội dung trong Nghị quyết, Chương trình hành động và Phụ lục của Chương trình hành động, các đơn vị nghiên cứu, cụ hóa thành các nhiệm vụ thực hiện gắn với chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với đặc điểm, tình hình của đơn vị, bảo đảm khả thi, thiết thực, hiệu quả; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện.

Định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết, Chương trình hành động; biểu dương tập thể, cá nhân tiêu biểu theo thẩm quyền; xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm; báo cáo kết quả thực hiện về Đảng ủy Bộ.

4. Cục Kế hoạch-Tài chính có trách nhiệm bố trí ngân sách đảm bảo cho các đơn vị thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ tại Chương trình hành động theo quy định của pháp luật.

5. Văn phòng Đảng ủy Bộ giúp Ban Thường vụ Đảng ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả thực hiện Chương trình hành động.

T/M BAN CHẤP HÀNH

BÍ THƯ

Đã ký

Nguyễn Hải Ninh

------------------------------

Các phụ lục đi kèm

01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page14.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page15.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page16.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page17.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page18.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page19.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page20.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page21.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page22.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page23.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page24.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page25.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page26.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page27.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page28.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page29.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page30.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page31.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page32.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page33.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page34.jpg
01-ctrdu-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nqdh-db-lan-i-bo-tu-phap-page35.jpg
Đại hội đảng toàn quốc
Ban chấp hành
Tổng Bí thư
Bộ Chính trị
Ban Bí thư
Uỷ viên TW
Uỷ viên dự khuyết
<iframe src="https://daihoidangtoanquoc.vn/embed/congress?congress=xiv" height="400" width="100%" frameborder="0" scrolling="no" marginheight="0" marginwidth="0"></iframe>
Copy mã nhúng